Viết nhanh: Chrome là đối thủ của IE hay FF?

Không hiểu sao nhiều người hay phân tích Chrome vs FF. Đứng từ góc độ chia sẻ nhu cầu và giá trị thì

1. Mainstream users, Gọn nhẹ: Chrome, IE8 > IE7, IE6 –> Chrome và IE8 lấy thị phần của IE7, IE6

2. Mainstream users, Upgrate tiện lợi: IE8 lấy thị phần từ IE7, IE6

3. Mainstream users, Marketing power: Chrome phân phối và thương hiệu qua Google. Chrome lấy thị phần của MS, không tác động được vào FF

4. Advanced users, Chức năng, tiện lợi: FF > Chrome, IE. Chưa rõ FF đạt peak  hay không trong mảng này, nhưng xu hướng user ngày càng advanced. FF lấy thị phần của IE, Chrome không tranh được.

5. Advanced users, Web2.0 apps, JS: Chrome, FF > IE6, IE7 đáng kể. Chrome, FF lấy thị phần của IE. Nhưng tốc độ lấy phụ thuộc vào ý tốc độ tăng trưởng của Advanced user. Web 2.0 giảm hot –> không chừng trend còn bị đảo ngược.

6. Anti Microsoft user/Apple và Linux Fanboi: Chrome = FF. Chrome lấy thị phần của FF

Tổng hợp lại, và ước tính trọng số thị phần của IE thì có vẻ Chrome đánh vào base của IE nhiều hơn là làm được gì FireFox, thậm chí có thể Chrome mò cho FF xơi, vì user mainstream move vào Chrome trước, sau đấy chuyển sang FF theo mức độ advance.

Còn nhu cầu gì lớn chưa tính đến không nhỉ?

Viết nhanh: Hậu duệ của Y360!

Bàn tán trên net về số phận Y360 cũng nhiều. Đọc mạch thảo luận trong LinkHay, câu em đi để lại con đường của Tuấn Linh tự dưng khiến nảy ra hứng viết, nhưng lại viết kiểu nháp, ngắn gọn thôi.

  1. Y360! đang chết – không thể đảo ngược. Dù Yahoo đóng cửa nó hay không thì user cũng dần dần rời bỏ nó sang các dịch vụ khác.
  2. Vấn đề là Y360 ra đi sẽ để lại những gì, users của nó chuyển sang các dịch vụ nào?
  3. Đánh giá vấn đề từ các góc độ nhu cầu của người dùng mà Y360 đang đáp ứng
    • Theo đối tượng
      • Hot blogger: viết bài hot, nhanh chóng được bạn đọc biết, lan truyền,  và comment
      • Proffesional blogger: viết bài, kết nối quy mô nhỏ
      • Giới trẻ: trang trí home page, tâm sự thở than, kết nối bạn bè
      • Casual writer: tâm sự đơn giản, kết nối bạn bè
      • All: blasting, update status
    • Nhu cầu kết nối (relationship centric)
      • Update trang home 360
      • Kết nối thông qua YM và YM notify
      • Blast update
      • Phát triển quan hệ: yếu, không đáng kể
      • Comment
    • Blogging (content)
      • Hot, pro và casual
      • Copy and share
      • Tracking bài viết của bạn (thay cho RSS)
    • Ego centrics
      • Trang trí home page, tạo style
      • Post bài đáp ứng nhu cầu Ego
  4. Tại sao Yahoo rời bỏ Y360?
    • Yahoo là công ty toàn cầu, Y360 không cạnh tranh được ở toàn cầu, duy trì Y360 ở Việt nam là vô nghĩa.
    • Yahoo cố đẩy lùi tiến trình này lại, vợt được bao nhiêu thì vợt –>  đẩy user sang Yahoo plus và Yahoo Profiles.
    • Y360! là một sản phẩm tệ không cạnh tranh nổi với các sản phẩm khác mang tính chuyên biệt hóa.
    • Người dùng Việt nam bị bó trong môi trường Internet của Yahoo nên việc đóng gói all-in-one các chức năng tạo ra hiệu ứng user lock-in cho Yahoo.
    • Ở quốc tế
      • Blogging có WP, blogger hơn hẳn Yahoo
      • Ego/Style centric có MySpace
      • Kết nối có FaceBook
      • Content viral có Twitter, FaceBook
      • Blogging kết hợp home page có LiveSpaces
      • Quick Share kết hợp style có Tumbl
  5. Tại sao người dùng chưa bỏ Y360
    • Không phải vì chưa có tools hay platform mới
    • Mà vì ngại migrate, và chuyển nội dung cũ sang chỗ mới
    • Vì sợ mất kết nối cũ và khả năng lan truyền nội dung.
  6. Y360 tan vỡ, và users của họ sẽ phân tán sang nhiều network khác nhau, như dưới đây
  7. Blogging chuyên nghiệp/Hot bloggers
    • WordPress và WordPress tự host: chủ động, linh hoạt, tùy biến và là best blogging platform
    • Blogger của Google có một chút cơ hội, nhưng theo tôi là không bao nhiêu. Một số local blogging service provider có thể sẽ tiếp nhận được một số như sky.vn và một số khác. Tuy vậy do ko tìm hiểu kỹ nên tôi cũng không rõ tiềm năng của nó tới đâu.
    • Nhóm này lo ngại mất độc giả, nhưng họ sẽ nhanh chóng nhận ra rằng lượng độc giả của họ không phụ thuộc vào Y360 mà phụ thuộc vào nội dung của họ.
    • Các công cụ social media mới: facebook, twitter, linkhay giúp họ thoát khỏi phụ thuộc trên
    • Cách tốt là thoát ngay, thoát nhanh, và làm quen thu thập kinh nghiệm với môi trường mới, phát triển quan hệ trong môi trường media mới.
  8. Home page/trang trí
    • Nhóm user này có 2 lựa chọn Tumblr đang được chú ý, và các social network của Việt nam mà copy lại phong cách Y360.
    • Nhóm coi trọng trang chủ phong cách riêng có thể đổ về Yume, Cyworld, Yobanbe, Ipro
    • Nhóm thích trang trí, kèm theo chia sẻ có thể đổ về Tumblr
    • Còn nhiều network nữa rất mạnh ở quốc tế, nhưng chưa đủ để notice.
  9. Quan hệ, update bạn bè, giao lưu, viết nhanh, thở than, tâm sự 
    • FaceBook sẽ tóm toàn bộ segment này một cách nhanh chóng vì:
    • nó có đủ các chức năng quan trọng: quick blog (notes), blasting, tracking update, chia sẻ ảnh
    • nó được PR mạnh mẽ như một sự thay thế Y360
    • nó đã đạt được critical mass và viral rất nhanh, không ai có thể theo kịp nữa.
    • nhóm user này không có nhu cầu quảng bá nội dung của họ nên không bị phụ thuộc vào quan hệ cũ Y360
  10. Social media, viral content, chia sẻ what is interesting, tracking update
    • YM hiện vẫn là king qua việc gửi link, nhưng trở nên lạc hậu
    • Twitter là người nắm bắt và đẩy khái niệm này lên tầm cao mới; phát triển rất nhanh và tạo ra giá trị rất riêng biệt.
    • LinkHay được design cho update, share và tracking conservation. Nhưng cảm nhận của người dùng về giá trị sẽ rất khó khăn.
    • Ngoài ra không có ai đang cạnh tranh lĩnh vực này.
    • Nhu cầu này ko được phục vụ tốt nhất ở FaceBook, nhưng nó có thể là “just enough” để các đối thủ khác không thể đạt được critical mass.
    • Như vậy, nhu cầu loại này không phải “nhặt user của Y360” mà sẽ là xuất phát từ nhóm users này.
    • FaceBook, Twitter, LinkHay nhắm vào đây. Facebook có lợi thế tốc độ, nhưng 2 dịch vụ kia định vị khác về nhu cầu. Vì vậy tới thời điểm này, kết quả của họ phụ thuộc nhiều vào chính định vị và năng lực phát triển sản phẩm của họ hơn là việc FB đi tới đâu.
    • Sẽ là thiếu sót nếu không nhắc tới các twitter clone ở Việt nam, nhưng ko nhớ tên dịch vụ nào nên không lưu ra ở đây.

Notes:

1. Bài này chỉ nói về hậu duệ của Y360, chứ ko phải nói về Social network và social media nói chung.

2. Sẽ còn sót nhiều dịch vụ chưa được nhắc tới, ở trên là những cái tôi biết và nghĩ rằng có thể có cơ hội. Bạn có thể giới thiệu thêm dịch vụ bạn biết.

Suy nghĩ nhanh về FB design mới

    1. Thiết kế các chi tiết thông tin, công nghệ vẫn hoàn hảo
    2. Page/Group vẫn không có mấy giá trị. Cần các killer apps cho chúng.
    3. Dịch chuyển rõ ràng sang content centric, nhưng không mất hẳn relationship (cụ thể nói sau). Photo trong FB đã từng là công cụ ghi nhận friendship moment, bây giờ photo là để chia sẻ ảnh đẹp.
    4. FB tăng trưởng nhanh từ lần dịch chuyển sang content thứ nhất (cách đây vài tháng), và đây có thể là lý do cho độ “máu” khi dịch chuyển tiếp tục về content.
    5. “Học” một số thiết kế của FriendFeed: bộ lọc bên trái, thảo luận quanh feed items, import content của mình từ các nguồn khác.
    6. “Học” một phần từ Twitter: blast và micro conservation. Conservation dễ hơn twitter, nhưng hẹp hơn, ít hơn và đóng hơn.
    7. Là thay đổi lớn về lõi và bản chất và hướng đi, tuy vậy lại không phải là một cú ngoặt quá sốc với users.
    8. Đúng hay sai thì thời gian trả lời, nhưng lần thay đổi này của FB cảm giác phân vân kéo dài, chứ không ủng hộ nhanh chóng như lần trước.
    9. 3 types of relationships: (r1) bạn bè, gia đình hay các mối quan hệ thiên về tình cảm, xã hội đi với ta tới cuối đời, (r2) công việc, chuyên môn hay những mối quan hệ liên quan tới nghề nghiệp, cuộc sống của bạn, (r3) hobby, interest, affinity – Sàn nhạc là một ví dụ.
    10. Facebook đã từng thiên về (r1), (r2) và có xu hướng chuyển dần sang (r3), vẫn social graph cũ, nhưng cách họ tương tác với nhau thay đổi.
    11. New nature of FaceBook:
      • Quan hệ xung quanh các chủ để nội dung.
      • Tuy vậy nó là long tail content, not top hits.
      • Khoe content của tôi (spam) và more vanity. FB thậm chí consider url dạng facebook.com/tanng
      • Chia sẻ mối quan tâm (spam)
      • Và micro conservation (not deep)
      • Very very long tails và dynamics – big prize here?
    12. Facebook có lệch core? Very risky move. Bước đi vội vàng? Hay tới lúc lớp user mới đòi hỏi core mới, experience mới phù hợp hơn?
    13. Thách thức
      • Bản chất publicity, viral và realtime một cách tương đối của Twitter giúp nó cạnh tranh tốt hơn trong quan hệ loại (r3). Tuy vậy FB có lợi thế về social graph, basic apps rất tốt và dễ sử dụng hơn cho mass. Ngoài ra FB nhắm tới phần đuôi thấp hơn phần của Twitters.
      • Quan hệ kiểu (r3) thường hot, bốc nhanh, nhưng cũng xẹp nhanh. How to keep it có giá trị lâu dài như quan hệ tình cảm.
      • Giải quyết mâu thuẫn privacy và publicity
      • Lọc bỏ junk, spam content trên feed. Less overload.
    14. Câu hỏi mở: có dấu hiệu cho thấy FB đang ngắm vào bản chất publicity và quan hệ “theo đuôi” kiểu Twitter. Chờ và xem họ sẽ làm thế nào.
    15. Và còn một loạt câu hỏi mở nữa, nhưng too complicated to think chứ đừng nói tới viết chúng ra.
    16. Thở dài: quá khó để viết hết ra một cách rõ ràng, đầy đủ và hấp dẫn.

Hoàng Sa/Trường Sa, Trung Quốc và thái độ sống – udpate

Nói chung lần này là một ví dụ điển hình cho sự thất bại trường phái hôn đít. Cứ tưởng là hôn đít nó một lần thì nó sẽ yêu mình, quý mình, trọng đãi mình. Nhưng không phải, cứ 10 năm một lần nó sẽ lấn mình một chút, dần dần chẳng còn gì. Ngay lúc này vẫn còn vài chú muốn hôn đít Tàu. Tất nhiên là đối đầu với nó không lại rồi, nhưng không lại thì sao? Đằng nào chẳng chết, chết béng ngày hôm nay, còn hơn chịu nhục xong rồi mới chết. Tiến lên thì còn cửa sống (tuy nhỏ), lùi lại thì chết là chắc. Với lại sống mà chỉ để bàn tán chuyện cave, khen phò sang với lại xem phim sex Vàng Anh thì sống làm đe’o gì.

1. Lên tiếng của Blog Oshin – Huy Đức

http://blog.360.yahoo.com/blog-_Q78P6g5br89WVUa77qC3PG4?p=1601#comments

2. Blog Bùi Thanh với tinh thần độc lập

http://blog.360.yahoo.com/blog-CIrwXUUzbq_T38SajGABjc_c

3. Tranh luận tại diễn đàn Thăng Long

http://tathy.com/thanglong/showthread.php?p=395774#post395774

4. Và những kẻ nhu nhược, bán nước của Diễn đàn Tin học ở đây

* Tạo điều kiện cho bọn bán nước.

* Ban nick, xóa bài  những người nhổ vào mặt bọn bán nước

* Chuyển topics đấu tranh chống Tàu vào Góc Thư giãn/Chit chat

Update: Link đã bị DDTH xóa sạch, các bài trong link còn lại cũng xóa nốt.

Bọn DDTH này điên rồi, mất tư cách con người ròi. Làm người phải dám sống, dám bảo vệ lẽ phải. Đả đảo tàu khựa.

Lưu ý: chỗ này không dành cho bọn chống phá chính quyền vào bàn tán. Tất cả các comment của chúng sẽ bị xóa hết

Sáu trụ cột của nhân cách!

Hồi xưa có đọc về The Six Pillars of Character, vốn định dịch nhưng vừa dài, vừa khó, vừa ngại. Nên thôi tóm tắt lại ý chính của tác giả cho nhanh:

  • Đáng tin (trustworthiness). Đáng tin bao hàm trung thực, tin cậy, trung thành, và kiên định. Trung thực theo nghĩa là có gì nói nấy, thấy 1 nói là 1, thấy 2 nói là hai, không dối trá để đạt mục tiêu. Tin cậy theo nghĩa là người khác có thể tin vào bạn, điều bạn nói ra đã được bạn suy nghĩ, kiểm chứng cẩn thận, không vội vàng, bừa bãi khi phát ngôn, có trách nhiệm với lời nói của mình, không hứa hẹn bừa bãi những điều mình không có khả năng thực hiện. Trung thành có nghĩa là trách nhiệm, sự tận tụy và hy sinh cho bố mẹ, vợ chồng, con cái, bạn bè của mình. Kiên định là trước sau như một, nói vì lòng tin, nói vì chính kiến chứ không nương theo hoàn cảnh, tình huống, sức ép. Trong mọi tình huống đều giữ một quan điểm, một cách nhìn.
  • Tôn trọng (Respect). Tôn trọng đó là sự nhìn nhận, đánh giá người khác với sự trân trọng. Biết lắng nghe, thấu hiểu, đánh giá và xem xét nhu cầu, mong muốn của người khác. Biết chấp nhận sự khác biệt, nhìn nhận mọi người trên góc độ của họ, không phán xét bằng cặp mắt của mình. Tôn trọng quyền được biết, được nêu ý kiến của mọi người trong các vấn đề ảnh hưởng tới cuộc sống của họ.
  • Trách nhiệm (Responsiblity). Trách nhiệm bao hàm trách nhiệm với công việc, nỗ lực đạt tới hoàn hảo và sự kiềm chế. Trách nhiệm với công việc nghĩa là đây là việc của tôi, tôi phải lo cho nó, nếu thất bại thì đó là lỗi của tôi. Nỗ lực đạt tới hoàn hảo là cố gắng để mọi thứ tốt hơn, dù không ai yêu cầu nhưng tôi vẫn cố để làm tốt hơn, nhanh hơn, hiệu quả hơn. Đây là nỗ lực để thỏa mãn nhu cầu bên trong, chứ không phải một nỗ lực để đạt được một phần thưởng nào đó. Kiềm chế là việc tự kiểm soát mình, không để mình làm những điều xấu, điều tồi tệ.
  • Công bằng (Fairness). Công bằng là sự bình đẳng, phi phe phái, hợp lý hợp tình, cởi mở và công khai. Điểm đáng lưu ý ở đây là cách ứng xử phù hợp sẽ tạo ra sự công bằng. Nó là công bằng trong cơ hội, trong thực hiện, trong bình luận/nhận xét/đánh giá và trong thưởng phạt hợp lý với kết quả.
  • Quan tâm (Caring). Quan tâm không phải là từ thiện, không phải là thương cảm, nó khả năng lắng nghe bằng trái tim, hành động bằng tấm lòng. Bằng sự quan tâm chúng ta có thể lắng nghe được mong muốn, nỗi đau, khát vọng của người khác, điều mà lý trí xét đoán không thể làm được. Bằng sự quan tâm chúng ta có thể hành động vì người khác, thấu hiểu họ, vì lợi ích của họ. Chúng ta không có lựa chọn khác, bởi vì dù độc lập đến mấy, chúng ta không tồn tại một mình.
  • Công dân tốt (Citizenship). Là công dân tốt tức là tuân thủ các luật lệ thành văn hay không tên của của cộng đồng, chấp nhận nó và hòa mình vào trong nó. Tuân thủ luật lệ chưa đủ là công dân tốt mà còn phải đóng góp, cống hiến để xây dựng và phát triển cộng đồng, cho cả thế hệ trước, thế hệ này và thế hệ sau.

Một việc cần làm là đối chiếu chính mình với 6 trụ cột này để biết mình đang như thế nào, cần nỗ lực gì hơn. Mai có thời gian tôi sẽ làm việc này và post vào đây, còn bạn thì sao? có dám tự đánh giá mình?

Hacking để kiếm tiền – Xu hướng mới

Nhiều năm trước người ta hack và tấn công website để học hỏi, vì thích thú, hay tệ hơn là để tìm kiếm danh tiếng, uy tín. Thời gian gần đây mọi sự đã khác đi. Học hỏi, hứng thú chỉ còn là lý do, nhiều người Hacking bây giờ là để

* Làm cho mình nổi tiếng. Thể hiện trong một số vụ phá hoại qua Yahoo tại Việt nam

* Ăn cắp credit card. Bùi Minh Trí bị nhiều nghi vấn về việc ăn cắp thẻ tín dụng trong vụ hack website của Bộ GD và ĐT

* Khủng bố, đe dọa, trả thủ. HuyRemy tấn công chợ điện tử vì lý do trả thù

* Bán kiếm tiền. Bài báo về sự sôi động trong thị trường lỗi software trên NewYork time viết rất kỹ về hiện tượng này. Trong đó, người ta rao bán và mua các lỗi trên Windows với giá 20,000$, 50,000$ và thậm chí còn nhiều hơn cho các nhóm tội phạm. Các nhóm tội phạm này sử dụng lỗi phần mềm cho các mục đích bất hợp pháp: ăn cắp thẻ tín dụng, phát tán spyware, thư quảng cáo, v.v….

Raimund Genes nhà nghiên cứu của Trendmiro khẳng định "Động lực chủ yếu của hoạt động hacking bây giờ là TIỀN"

Thư của ông Nguyễn Tử Quảng về vụ Bùi Minh Trí nói riêng, và cách xử lý hacker nói chung tuy đã khiến xã hội thay đổi phần nào cách nghĩ về hacker, nhưng vẫn chưa thật sự được các cơ quan chức năng nhìn nhận.

Web 2.0 và cultural impact – 2

 

Thời đại của mass niches và Quyền lực suy giảm của BigBoys. Hãy nhìn vào hình trên, nó là The Long Tail. Phần đầu của nó tuy nhỏ nhưng chiếm phần lớn diện tích, nói ngắn gọn lại 20% thiểu số chiếm tới 80% quyền lực, hoặc thậm chí cực đoan hơn 10% thiểu số chiếm tới 90% quyền lực – thể hiện quy luật Pareto 80/20. Và thế giới cũng hoạt động như vậy, 80% thông tin chạy qua sự kiểm soát của 20% thiểu số, cho tới ngày có Internet, Google và Chris Anderson phát hiện ra The Long Tail (wiki , TheLongtail.com ). Trong tiếng Anh, một số từ đặc biệt như "a, the, it, is, are ….) có độ thông dụng cao hơn rất nhiều so với các từ khác, nhưng nếu đếm tất cả từ ngữ trong các bài viết thì số từ thiểu số chiếm trên 2/3. Amazon.com cũng phát hiện ra rằng tổng doanh thu từ số sách không nổi tiếng vượt trội tổng doanh thu từ các best sellers, dù rằng doanh thu của từng best seller một so với loại sách không nổi tiếng là gấp hàng nghìn lần. Nói cách khác, anh có quyền lực cao hơn tôi rất nhiều, nhưng vì những người như tôi chiếm một số lượng lớn khủng khiếp, tổng lại tất cả chúng tôi có sức mạnh vượt trội số ít các anh. Long Tail không phải là quy luật vạn vật, nó sẽ xảy ra khi mà sức mạnh của đa số yếu ớt được giải phóng.

Và điều đó đã xảy ra trên Internet, với Google giúp hàng trăm ngàn niche websites, với sự vượt trội về số lượng, thay đổi cán cân quyền lực về kẻ yếu. Cưỡi trên làn sóng này, chỉ trong vòng 7 năm, từ một công ty thuê gara ô tô để đặt máy chủ, tới ngày nay Google đã có giá trị thị trường bằng 50% giá trị của Microsoft, một số chuyên gia thái quá còn dự đoán rằng, Google sẽ có thể có giá trị thị trường gấp đôi Microsoft vào thời điểm đỉnh cao, và là công ty đầu tiên vượt qua con số 1000 tỷ giá trị thị trường. Dù rằng đây là các suy đoán có phần cực đoan, nhưng nó cũng không làm mất đi giá trị của bằng chứng về sức mạnh của các niche websites. Hãy nhớ rằng từ mỗi click, Google chỉ thu được vài xu.

Quay lại một chút về niche media và mass media. Các báo điện tử lớn, như The NewYork Time, BusinesdWeek, CNN hay Reuter là các phương tiện thông tin đại chúng (mass media) luôn có lượng truy cập lớn nhất, vươn tới hàng triệu, thậm chí hàng tỷ độc giả. Nhưng thông tin của chúng quá chung và không đủ chuyên sâu, liệu có một tờ báo điện tử nào có thể có được các bài đánh giá về điện thoại như mobilereview.com, thông tin về công nghệ mới như Techrunch, hay cách nuôi chó của một tạp chí online chuyên sâu nào đó. Giá trị của mass media là ở chỗ chúng rộng khắp, mọi người đều cần chúng; giá trị của niche media là ở chỗ chúng chuyên sâu nhắm vào các ngách nhỏ, và đặc biệt là sự đa dạng khiến cho số lượng và giá trị tổng hợp của chúng trở nên khủng khiếp. Trong số 24 tỷ trang web trên index của Google, có lẽ chưa tới 1% thuộc về mass media. Chúng ta sẽ dùng thuật ngữ của Chris Anderson – the mass of niches để thể hiện sức mạnh của các niche websites.
Và đừng nhầm, The Long Tail không nói rằng mass media (kẻ mạnh) yếu đi, nó chỉ cho ta thấy rằng niche media (kẻ yếu) trở nên có nhiều quyền lực hơn, cả hai cùng tăng, nhưng kẻ yếu tăng với tốc độ nhanh hơn, cũng đừng cho rằng mass sẽ diệt niche hay niche sẽ diệt mass, chúng là Đầu (mass) và Đuôi (niche) của cùng một Long tail, song song tồn tại và bổ trợ lẫn nhau. Việt nam có 80 triệu dân, ồ không TQ có 1 tỷ dân, toàn châu Á có gần 1/2 dân số thế giới – chúng ta đang yếu, nhưng đó chính là sức mạnh khủng khiếp đang được chờ giải phóng.

Tiếp tới, thay vì việc tán thưởng, chúng ta sẽ tìm hiểu xem, Google đã giải phóng tiềm năng của mass niche như thế nào. Một tạp chí chuyên sâu về Hoa hướng dương sẽ không thể tồn tại trong một thế giới offline, bởi vì việc tìm kiếm độc giả phù hợp, phát hành và phân phối nội dung tới các độc giả này là hầu nhưng khả thi do các hạn chế về chi phí và nguồn lực. Nhưng khi tạp chí này chuyển sang phát hành qua Interernet trên một websites vấn đề phát hành và phân phối nội dung đã được giải quyết, Google giải quyết nốt khó khăn còn lại "tìm kiếm độc giả", trên thực tế đó là Google giúp độc giả tìm ra bạn. Nếu website của bạn thực sự là niche và thông tin của bạn có giá trị, thì chi phí cho việc độc giả quan tâm tới Hoa hướng dương tìm ra site của bạn trên Internet là bằng 0, bởi vì bạn sẽ hiện lên ở trang kết quả tìm kiếm đầu tiên. Nếu sites của bạn không đủ điều kiện để lên được trang đầu, Google AdWords sẽ giúp bạn, hãy mua một vài từ khóa liên quan tới niche của bạn, và mỗi khi người ta tìm kiếm, Google sẽ đưa site bạn hiện lên trong vùng quảng cáo. Chi phí cho việc này là bao nhiêu? Ở mức tối thiểu nó là 1 cent cho mỗi lần người đọc đến site của bạn nhờ có Google. Thử nghĩ xem, liệu site hay sản phẩm của bạn với chi phí đó có bao giờ lên nổi Vnexpress, VNN, Dân Trí chứ đừng nói tới The NewYork Time. Bởi vì khi bạn Google tức là bạn biết rõ bạn đang tìm gì, nên bạn sẽ chỉ bấm vào các đường link mà bạn cảm thấy hữu ích, từ phía niche sites điều này có nghĩa là người đến với site của bạn thực sự quan tâm và cần tới thông tin trên website của bạn, xác suất để biến họ thành độc giả thường xuyên sẽ sao hơn một quảng cáo thông thường. Thử hình dung bạn vào Dân trí, đọc một bài báo về công nghệ thông tin, và nhìn thấy biểu tượng của Trần Anh nhấp nháy, liệu bạn có bấm vào đấy và mua một chiếc máy tính, hay sẽ lẩm bẩm, làm gì mà lắm quảng cáo thế? Về phần tôi, tôi đã adblock (chặn không cho quảng cáo hiển thị) chúng trên tất cả các báo điện tử Việt nam và quốc tế, chúng quá khó chịu. Nói cách khác, Google giúp bạn được đúng độc giả, đúng vào lúc họ cần tới bạn và với chi phí hiệu quả nhất. Tìm kiếm không chỉ đơn thuần giúp chúng ta phát hiện nội dung, đôi lúc chúng ta phát hiện ra một bài báo hay, một tờ báo niche phù hợp, hay một niches communities, và chúng sẽ bắt đầu tham gia vào nó, khiến cho site đó phát triển hơn, xác định được phong cách của riêng nó. Nói cách khác Google giúp những người có quan tâm chung tập hợp lại, hình thành niche của mình và phát triển.

Có thực mới vực được đạo. Tuy vậy, cũng cần nhớ rằng mọi thứ đều cần tiền, để nuôi được niche site của bạn, bạn cũng cần tiền. Nội dung trên internet đa phần là miễn phí, bạn không có nguồn thu trực tiếp, và chi phí để nuôi một người đi bán từng banner quảng cáo có khi còn lớn hơn cả nguồn thu của bạn. Và Google đã giải phóng sức mạnh của các niche sites lần nữa, khi họ đưa ra AdSense, một công cụ tạo nguồn thu cho mass niche. Nhúng vài dòng code vào website, Google sẽ lựa chọn quảng cáo thích hợp, đặt vào bài báo của bạn, mỗi khi có một ai đó bấm vào link của AdSence, Google thu tiền của người quảng cáo rồi chuyển trả cho bạn. Việc của bạn còn lại chỉ là hãy viết các bài báo thật hay để thu hút độc giả trong niche của bạn rồi đi ngủ, ngay cả lúc bạn ngủ Google vẫn liên tục thu tiền hộ bạn. Khoản tiền thu được có thể lên tới hàng chục ngàn USD một tháng – nhiều người đã bỏ việc để tự xuất bản, nhưng cũng có thể chỉ đủ để uống bia. Nhưng điều quan trọng là mass niche bây giờ đã có thể kiếm được tiền, và khi có tiền thì nó có đủ điều kiện và động lực để phát triển.

Thử lấy tự truyện Lê Vân để so mô tả hiệu ứng Google. Với lượng phát hành 10,000 bản Lê vân thu được khoảng 60 triệu, tính rộng rãi ra là 100 triệu. Nhưng nếu cùng với mức độ nổi tiếng đó Lê Vân phát hành online, đăng 10 kỳ liên tiếp trong vòng 02 tháng,  mỗi trang có  2 quảng cáo banner, 3 quảng cáo text, giả định có 3 triệu công dân mạng truy cập và tìm đọc, thì số tiền Lê Vân kiếm được có thể dao động từ 500 triệu tới vài tỷ. Điều này có nghĩa là gì? Thứ nhất, bạn có thể kiếm nhiều tiền hơn nhờ online; Thứ hai, bạn không cần phải là nhà xuất bản chuyên nghiệp để có thể phát hành sách, các văn sỹ rẻ tiền như Oẳn, hay thậm chí Opps cũng có cơ hội kiếm được tiền. Từ đó cơ hội cho hàng trăm, thậm chí hàng ngàn tác giả như vậy xuất hiện. Dù rằng số tiền Oẳn, Opps kiếm được có thể thấp hơn so với số Lê Vân kiếm được, nhưng ít nhất họ cũng có phần thưởng cho công sức của mình và có thể dùng số tiền ít ỏi đó để làm cho mình trở nên xinh hơn; Thứ ba, vì nội dung là miễn phí và luôn sẵn sàng trên Internet, số lượng độc giả sẽ tăng vọt, vượt xa con số 10,000 đầu sách bán được, đối với người viết thì còn gì mong đợi hơn thế nũa. Người đọc cũng được lợi, không phải tốn tiền, không phải tốn công họ vẫn được đọc; Cuối cùng và quan trọng nhất, mô hình kinh doanh cho niche đã thay đổi, cho không nội dung để có thật nhiều độc giả còn Google  (hoặc các cty khác) sẽ kiếm tiền hộ bạn. Một lần nữa, đừng nhầm khi hiểu rằng các best seller Harry Porter cũng nên chuyển sang xuất bản trên mạng, chúng ở phía đầu của Long Tail, còn số lượng đông đảo các One, Opps nắm ở phía đuôi của Long Tail.

Nói tóm lại, Google đã giúp gì cho kẻ yếu? Với người đọc, người tìm kiếm Google giúp ta đến được với thông tin ta cần, hoàn toàn miễn phí. Với người phát hành/người có nội dung Google tạo kênh truyền thông cho tiếng nói chúng ta dược hiện diện, websites được tìm thấy và tiếp cận bởi độc giả ngách hẹp, và có nguồn thu để tiếp tục duy trì tiếng nói của mình.

Web 2.0 và cultural impact

Tại bài viết của mình ở http://blog.360.yahoo.com/blog-7yYk…XXjBDjYA8SR?p=6
Thổ Phỉ đặt câu hỏi

Toàn cầu hóa hay Mỹ hóa?
Các cơ chế tự tìm kiếm nội dung như RSS (Really Simple Syndication-Dịch vụ cung cấp thông tin cực kỳ đơn giản) hay Podcast, tưởng chừng như sinh ra để giản tiện hóa thao tác của con người, thực ra chỉ hạn chế quyền lựa chọn nội dung của người đọc, một cách tinh vi biến họ đơn thuần trở thành nô lệ của những đế chế truyền thông hiện đại như Yahoo hay Google. Hãy nhìn sự thay đổi trong giao diện của Yahoo, xuất phát điểm từ một trang cung cấp dịch vụ tìm kiếm và thư điện tử miễn phí cho đến khi trở thành một nhà cung cấp nội dung hàng đầu hiện nay trên Internet, cái cách những thông tin thời sự được nó cung cấp trên trang chủ của mình chẳng mấy chốc sẽ khiến một người Việt nam còn tường tận tin tức bên ngoài hơn chính tin tức xẩy ra trong thành phố mà mình đang sinh sống.

I. Internet 2.0: cán cân quyền lực nghiêng về kẻ yếu
Hàng chục năm về trước các nhà "luyến tiếc quá khứ" vĩ đại cũng đã viết không ít bài buồn bã về việc Mỹ hóa. Coca cola, kẹo cao su, điện ảnh Hollywood và MTV được nêu ra như các bằng chứng của việc sức mạnh kinh tế Mỹ đã giúp cho văn hóa của họ xâm thực châu Âu và Á như thế nào. Dù còn nhiều tranh cãi, nhưng quan điểm này cũng không phải không có lý: sức mạnh kinh tế giúp cho sản phẩm/dịch vụ tràn vào và đi cùng với nó là lối sống Mỹ.
Ngày nay, lập luận này một lần nữa lại tái hiện, nhưng dưới cái vỏ mới. Thủ phạm chính là Internet với Google, Yahoo là hai mục tiêu chính của sự chỉ trích. Người ta coi  Google, Yahoo là công cụ của kẻ mạnh, giúp nước Mỹ biến chúng ta thành nô lệ của thông tin. Nhưng, thực tế là
* Google và Yahoo không hẳn là các đế chế truyền thông bị kiểm soát bởi những kẻ mạnh, mà là môi trường truyền thông tin khách quan chưa từng gặp.
* Web 2.0 không chỉ bao gồm Google và Yahoo, mà còn nhiều lực lượng quan trọng khác ảnh hưởng tới việc truyền bá thông tin trên Internet hay văn hóa.
* Web 2.0 giúp cán cân quyền lực nghiêng về kẻ yếu, và chúng ta chính là kẻ yếu. 

1. Google – The King of Search.
Google không phải là đế chế truyền thông, vì một lý do đơn giản nó không sở hữu nội dung, cũng không can thiệp vào quá trình tổng hợp nội dung.
Sứ mệnh của Google là giúp hầu như mọi thông tin trên thế giới trở nên hữu ích và dễ dàng tiếp cận, bất kể  thông tin đó thuộc về ai: nước Mỹ,  các nước nghèo, người giàu, kẻ mạnh, hay thậm chí  các nhóm khủng bố.

Hiện diện.  Với 24 tỷ trang web có mặt trong Google index, một điều chưa từng có đã xảy ra, tiếng nói của kẻ yếu từ nay đã có thể hiện diện và truy cập được.  Trước thời Google, để đưa được tiếng nói lên các phương tiện thông tin đại chúng không phải là đơn giản, bạn phải có quyền lực, có tiền hoặc phải là một trường hợp nổi tiếng đặc biệt. Một khi CNN, BBC không đưa tin, bạn khó có thể biết nơi nào đang chống cuộc chiến tranh nào, những ai có cùng ý tưởng chính trị. Nói cách khác các mạng lưới truyền thông Anh/Mỹ đã không chế hầu hết thông tin toàn cầu. Trong thời đại Internet, bạn chỉ cần tìm kiếm và sẽ nhanh chóng tìm ra những website có cùng ý chí ( mục đích)chống chiến tranh cùng bạn, từ đó tập hợp lại, trở thành một lực lượng, một tiếng nói.

Không có Google, sẽ không ai biết về bạn. : Một câu chuyện khác mà nhiều người biết: Ungthu.net, gạt qua một bên tất cả các vấn đề khác, hãy thử nhìn nó từ khía cạnh Google. Thật sự mà nói, tôi biết về câu chuyện Ungthu.net thông qua một người bạn chứ không phải từ Google. Nhưng khi tôi bắt đầu quan tâm tới trang web này, với một phép tìm kiếm, chỉ trong 2 phút Google đã giúp tôi tìm thấy và đọc Ungthu.net. Không có sự tiện lợi và nhanh chóng của Google thì vẫn có cách để đọc bài viết trên Ungthu.net, nhưng những kẻ lười nhác như tôi sẽ đơn giản là gạt Ungthu.net ra một bên. Với sự hỗ trợ của Google, những thứ vốn yếu đuối như: ca trù, một em bé bị ung thư, hay công trình hạ bệ Einstein của KTS dở người Minh Trí từ nay đã được nói và có cơ hội được nghe thấy trên toàn thế giới.

MANIFOLD DESTINY – Part 12-13

12. E. T. Bell, tác giả của quyển sách “Những nhân vật trong Toán học,” một biên niên sử dí dỏm của lĩnh vực Toán học xuất bản năm 1937, đã có lần than vãn về “những cuộc tranh cãi vụn vặt về tác quyền ưu tiên đã làm biến dạng lịch sử khoa học.” Nhưng khi đó, khi mà e-mail, nhật ký mạng, và các trang web còn chưa có, thường có một sự đúng mực trong các tranh cãi này. Năm 1881, chính Poincaré – lúc đó đang làm việc tại ĐH Caen – đã có một cuộc khẩu chiến với Felix Klein, một nhà toán học Đức tại Leipzig. Khi ấy, Poincaré đăng một vài bài báo trong đó ông đã gán tên cho những hàm số xác định “Fuchsian,” với tên của một nhà toán học khác. Klein đã viết thư cho Poincaré, nói rằng Klein và các đồng nghiệp cũng đã thực hiện những nghiên cứu quan trọng về những hàm số này. Và thế là một cuộc gửi qua gửi lại những bức thư với lời lẽ lịch sự đã xảy ra giữa Caen và Leipzig. Những lời cuối của Poincaré về vấn đề tranh cãi này là một lời trích dẫn từ tác phẩm “Faust” của Goethe: “Name ist Schall und Rauch.” Dịch thoáng ra, câu này tương đương với câu “What’s in a name?” (“Cái tên thì có quan trọng gì?”) của Shakespeare.
Về bản chất, đây cũng chính là điều các bạn của Yau tự hỏi mình. “Tôi cảm thấy khó chịu với việc Yau có vẻ như cần nhiều tiếng tăm hơn nữa,” Dan Stroock tại MIT, đã nói. “Yau đã làm được những điều kỳ diệu, và đã được tưởng thưởng xứng đáng cho những điều đó. Ông ta đã đoạt được tất cả các giải thưởng. Tôi thấy Yau trở nên tầm thường khi ông ta có vẻ như đang cố gắng để được công nhận rằng mình cũng có đóng góp trong việc giải quyết giả thuyết Poincaré.” Stroocj chỉ ra rằng, 25 năm trước Yau đã ở trong tình thế giống như Perelman hiện giờ. Kết quả nổi tiếng nhất của Yau – về các manifold Calabi-Yau – có vai trò hết sức quan trọng trong vật lý lý thuyết. “Calabi đã phác thảo một chương trình,” Stroock nói. “Thật ra mà nói, Yau chính là Perelman trong bài toán Calabi. Hiện tại, ông ấy lại ở phía bên kia. Ông ta đã có thể nhận được sự công nhận về công lao to lớn cho việc giải quyết bài toán Calabi-Yau, mà không có chút gì phải ăn năn. Vậy mà bây giờ, Yau có vẻ như đang tước đoạt những công lao của Perelman trong việc giải quyết hoàn toàn giả thuyết Poincaré. Tôi không biết rằng có khi nào Yau nhận thấy sự giống nhau giữa 2 trường hợp này không.”
Toán học dựa trên sự hợp tác nhiều hơn so với nhiều nghành khác. Trong hầu hết các bài toán, cần phải có những sự thấu hiểu vấn đề của một vài nhà toán học để giải được chúng, và đã có những tiêu chuẩn – nghiêm ngặt như chính những quy tắc trong Toán học – được đặt ra để xác nhận sự đóng góp của mỗi cá nhân. Như Perelman đã nói, “Nếu tất cả mọi người đều thành thật, thì việc chia xẻ ý tưởng là dĩ nhiên.” Rất nhiều nhà toán học xem cách cư xử của Yau trong việc giải quyết giả thuyết Poincaré như một sự vi phạm tiêu chuẩn đạo đức cơ bản này, và họ lo ngại rằng nó sẽ gây ra nhiều thiệt hại cho Toán học. “Chính trị, quyền lực và sự điều khiển không có vai trò chính đáng trong cộng đồng của chúng tôi, và chúng đe dọa sự toàn vẹn của Toán học,” Phillip Griffiths nói.
13. Perelman thích đi xem trình diễn opera tại Nhà hát Mariinsky, St. Petersburg. Ngồi tại hàng ghế cao phía sau, anh không thể thấy rõ được vẻ mặt hay trang phục của các nghệ sĩ. Thế nhưng anh chỉ quan tâm đến giọng hát của họ, và anh nói rằng, so với những chỗ khác, thì tại chỗ anh ngồi có thể nghe được những âm thanh hay nhất. Perelman cũng đang quan sát cộng đồng toán học – và phần lớn thế giới này – từ phía xa (như là anh đang nghe opera vậy.)
Trước khi đến St. Petersburg, vào ngày 23 tháng Sáu, chúng tôi đã gửi vài tin nhắn đến địa chỉ e-mail của Perelman tại viện Steklov. Chúng tôi đã bắt taxi đến chung cư nơi anh ở, và vì không muốn đường đột xâm phạm sự riêng tư của anh, chúng tôi đã để một quyển sách tổng hợp các bài báo của John Nash vào hòm thư của Perelman, cùng với nó là một bưu thiếp viết rằng chúng tôi sẽ ngồi đợi anh tại băng ghế ở sân chơi gần kề vào buổi chiều hôm sau. Ngày hôm sau, sau khi không thấy Perelman xuất hiện, chúng tôi đã để lại một hộp trà trân châu và một tờ giấy có ghi một vài câu hỏi mà chúng tôi muốn trao đổi với anh. Chúng tôi đã lặp lại việc này thêm một lần nữa. Cuối cùng, tin rằng Perelman đã đi nơi khác, chúng tôi quyết định ấn chuông cửa nhà anh với hy vọng rằng ít nhất sẽ nói chuyện được với mẹ anh. Một người đàn bà trả lời và mở cửa cho chúng tôi vào nhà. Perelman gặp chúng tôi tại phòng trước với ánh đèn mờ của căn hộ. Anh đã không kiểm tra địa chỉ e-mail tại Viện Steklov từ nhiều tháng nay, và cũng không kiểm tra hòm thư của mình cả tuần nay. Anh không biết chúng tôi là ai.
Chúng tôi hẹn gặp nhau vào lúc 10 giờ sáng hôm sau tại Nevsky Prospekt. Từ nơi này, Perelman, trong chiếc áo khoác thể thao và đôi giày da đóng đinh, đưa chúng tôi đi dạo khắp thành phố trong suốt 4 tiếng đồng hồ. Anh có lời bình luận cho mọi tòa nhà và khung cảnh chúng tôi đi qua. Sau đó chúng tôi đi đến xem một cuộc thi hát kéo dài 5 tiếng tại St. Petersburg Conservatory. Perelman nói với chúng tôi rằng anh đã từ bỏ cộng đồng toán học và không coi mình là một nhà toán học chuyên nghiệp nữa. Anh đề cập đến một cuộc tranh luận của mình vài năm về trước với các đồng nghiệp về việc người ta xác nhận công lao của một tác giả của một bài chứng minh đặc biệt như thế nào, và anh nói rằng anh đã khá chán nản với những tiêu chuẩn đạo đức lỏng lẻo trong Toán học. “Những người bị coi là xa lạ lại không phải là những người vi phạm các tiêu chuẩn đạo đức,” anh nói. “mà họ lại những người bị cách ly, như tôi.” Chúng tôi hỏi anh có đọc bài báo của Zhu và Cao chưa. “Tôi không rõ rằng họ đã có đóng góp gì mới,” anh trả lời. “Có vẻ như Zhu không hiểu lắm bài báo của tôi và chỉ cố gắng xây dựng lại lời giải.” Còn về Yau, anh nói, “Tôi không thể nói rằng tôi bị xúc phạm. Có những người khác còn làm những điều xấu xa hơn. Tất nhiên, có rất nhiều các nhà toán học thành thật, không ít thì nhiều. Phần lớn những người này là những người có nguyên tắc (conformist). Họ ít nhiều thành thật, nhưng họ cũng tha thứ cho những người không thành thật.”
Chính khả năng được nhận Huy chương Fields đã buộc Perelman phải cắt đứt vĩnh viễn với lĩnh vực của mình. “Cho đến khi tôi không trở nên đáng chú ý, tôi có thể có 2 lựa chọn,” Perelman giải thích. “Hoặc làm một vài điều xấu xa” – một sự ồn ào về sự thiếu toàn vẹn của cộng động toán học – “hay, nếu tôi không làm những điều đó, bị đối xử như một vật nuôi. Đến lúc này, khi tôi đã trở thành người rất đáng chú ý, tôi không thể nào đóng vai trò vật nuôi và giữ im lặng được nữa. Đó là điều khiến tôi phải rời bỏ cộng đồng toán học.” Chúng tôi hỏi Perelman phải chăng khi quyết định từ chối giải Fields và thoát ly khỏi cộng đồng, anh cũng đồng thời chối bỏ việc mình có khả năng gây ảnh hưởng trong lĩnh vực. “Tôi không phải là chính trị gia!” anh trả lời một cách giận dữ. Perelman không nói rằng việc từ chối giải thưởng của anh sẽ là câu trả lời cho cả giải thưởng 1 triệu đô la của Viện Clay. “Tôi sẽ không có quyết định nhận hay từ chối cho đến khi được đề nghị trao tặng,” anh nói.
Mikhail Gromov, nhà hình học người Nga, nói rằng ông hiểu được lô-gích của Perelman: “Để làm được những công việc vĩ đại, bạn phải có một tinh thần thanh khiết. Bạn chỉ có thể suy nghĩ về Toán học mà thôi. Bất cứ điều gì khác đều là điểm yếu của con người. Đồng ý nhận giải thưởng cũng là một điểm yếu.” Những người khác có thể xem việc từ chối nhận giải Fields của Perelman là một hành động tự kiêu, Gromov nói, nhưng nguyên tắc của anh ấy thật đáng ngưỡng mộ. “Những nhà khoa học lý tưởng chỉ làm khoa học và không quan tâm đến gì khác,” ông nói. “Perelman muốn sống với lẽ sống này. Bây giờ, tôi không nghĩ anh ấy đang thật sự sống ở mức lý tưởng như vậy. Nhưng anh ấy rất mong muốn điều ấy.”

MANIFOLD DESTINY – Part 9-11

9. Hamilton và Yau đều ngạc nhiên quá mức với tuyên bố của Perelman. “Chúng tôi cảm thấy như không ai có thể khám phá ra lời giải,” Yau đã nói với chúng tôi như vậy ở Bắc Kinh. “Ấy thế mà hồi năm 2002, Perelman đã nói rằng anh ta đã công bố một cái gì đó. Đơn giản mà nói thì anh ta đã đi tắt mà không phải làm hết những thứ tính toán xác định tỉ mẩn mà chúng tôi đã làm.” Hơn thế nữa, Yau phàn nàn, lời giải của Perelman “được viết một cách cẩu thả đến nỗi chúng tôi chả hiểu gì cả.”
Chuyến đi giảng dạy tháng Tư của Perelman được các nhà toán học và giới báo chí coi như một sự kiện quan trọng. Trong số những khán giả tham gia buổi giảng của anh ở Princeton có mặt John Ball, Andrew Wiles, John Forbes Nash, Jr., người đã chứng minh định lý [Riemannian embedding theorem], và and John Conway, người đã phát minh ra trò chơi tế bào tự nhân tên Life. Điều làm cho nhiều người trong số khán giả ngạc nhiên là Perelman không hề đề cập gì đến Giả thuyết Poincaré. “Lại mà xem một người này vừa chứng minh được một định lý nổi tiếng thế giới mà không hề đề cập gì đến việc đó hết," Frank Quinn, một nhà toán học ở trường Virginia Tech đã nói. “Anh ta trình bày một vài điểm chính và một vài tính chất đặc biệt, sau đó trả lời vài câu hỏi. Anh ấy đang cố tạo lập sự khả tín. Nếu như anh ta lại vỗ ngực mà hô, “Tôi đã giải được nó,” anh ta chắc sẽ nhận được nhiều sự kháng cự từ mọi người.” Ông Quinn nói thêm, “Mọi người đều chờ đợi sẽ nhìn thấy điều gì kỳ lạ. Perelman bình thường hơn là người ta trông đợi.”
Điều làm Perelman thất vọng là Hamilton đã không có mặt tại buổi thuyết trình đó và cả ở buổi tiếp theo tại ĐH Stony Brook. “Tôi tự coi mình là đệ tử của Hamilton, dù cho chưa khi nào được ông ấy cho phép,” Perelman nói với chúng tôi. Thế nhưng John Morgan từ ĐH Columbia, nơi Hamilton đang giảng dạy lúc đó, đã có mặt tại trong cử tọa của Stony Brook, và đã mời Perelman đến thuyết trình tại ĐH Colombia. Perelman đã chấp nhận lời đề nghị này với mong muốn được gặp Hamilton. Buổi nói chuyện được tổ chức vào buổi sáng thứ Bảy. Hamilton đã đến muộn và không hỏi một câu gì trong suốt cuộc bàn luận dài ngay sau bài trình bày của Perelman và trong bữa trưa sau đó. “Tôi có cảm tưởng rằng Hamilton chỉ độc phần đầu tiên của bài chứng minh của tôi,” Perelman kể lại.
Vào ngày 18 tháng Tư năm 2003, trong một kỳ của tạp chí Science, Yau đã nói về bài chứng minh của Perelman như sau: “Rất nhiều chuyên gia, tuy không phải là tất cà, dường như tin chắc rằng Perelman đã loại bỏ được các “điếu xì-gà” và vá được những “cái cổ hẹp”. Nhưng họ không chắc lắm về việc anh ta có thể kiểm soát được số lượng các phép phẫu thuật toán học. Đây có thể chính là một sai xót chết người của bài chứng minh, Yau cảnh báo, với chú ý về việc rất nhiều những nỗ lực khác trong việc giải quyết giả thuyết Poincaré đã vướng mắc tại những bước dẫn giải thiếu sót tương tự.” Các bài chứng minh toán học phải luôn bị hoài nghi, trước khi các nhà toán học có cơ hội rà soát lại toàn bộ quá trình chứng minh, Yau nói với chúng tôi. Đến lúc ấy, Yau nói, “nó không phải là Toán học, nó là một tín ngưỡng.”
Đến giữa tháng Bảy, Perelman đăng hai phần cuối cùng của bài chứng minh lên mạng Internet, và các nhà toán học bắt đầu công việc kiểm chứng và phản biện một cách cẩn thận các bước dẫn giải của bài chứng minh. Tại Mỹ, ít nhất 2 nhóm chuyên gia đã tình nguyện thực hiện các công việc này: Gang Tian (cũng là đối thủ của Yau) và John Morgan; và một vài nhà nghiên cứu khác tại ĐH Michigan. Cả hai dự án kiểm chứng này đều được Viện Clay hỗ trợ, và Viện này cũng có kế hoạch xuất bản thành sách các nghiên cứu đánh giá của Tian và Morgan. Quyển sách này, ngoài mục đích cung cấp cho các nhà toán học khác những chỉ dẫn về lô-gích của Perelman, còn có thể sẽ giúp anh đoạt được món tiền thưởng 1 triệu đô-la cho việc giải quyết Giả thuyết Poincaré. (Để đủ tư cách nhận giải, bài chứng minh phải được đăng trong một tạp chí được phê bình kỹ lưỡng (peer-reviewed venue) và vượt qua được những phản biện của cộng đồng Toán học trong vòng 2 năm.)
Vào ngày 10 tháng Chín năm 2004, hơn một năm sau khi Perelman trở về St. Petersburg, anh nhận được một bức email dài từ Tian. Tian viết trong thư rằng anh vừa mới kết thúc một chương trình chuyên đề kéo dài 2 tuần tại Princeton, dành riêng cho bài chứng minh của Perelman. “Tôi nghĩ là chúng tôi đã thấu hiểu bài chứng minh của anh,” Tian viết. “Nó đúng rồi.”
Perelman không trả lời Tian. Như anh giải thích với chúng tôi, “Tôi không lo lắng quá nhiều. Đây là một bài toán nổi tiếng. Một số người cần có thời gian để quen được với sự thật là bài toán này không còn là một giả thuyết nữa. Tôi tự xác định rằng mình nên đứng ngoài các cuộc kiểm chứng và không tham dự các buổi hội thảo thế này. Đối với tôi, điều quan trọng là: tôi không được gây tác động đến quá trình kiểm tra bài chứng minh.”
Vào tháng Bảy năm 2004, Quỹ Khoa học Quốc gia đã cấp cho Yau, Hamilton và vài học trò của Yau một dự án gần 1 triệu đô-la cho việc nghiên cứu và ứng dụng phát kiến đột phá của Perelman. Cả một nhánh trong Toán học đã phát triển dựa trên những cố gắng giải quyết Giả thuyết Poincaré, và bây giờ nhánh này có vẻ như sẽ đi vào quên lãng. Michael Freedman, người đoạt giải Fields cho việc chứng minh giả thuyết Poincaré cho chiều thứ 4, đã nói với tạp chí Times rằng bài chứng minh của Perelman “là một nỗi đau nhỏ cho một nhánh đặc biệt trong nghành hình học tô-pô.” Yuri Burago cũng nói rằng, “Bài chứng minh đã xóa sổ nhánh này. Sau khi bài chứng minh hoàn tất, rất nhiều nhà toán học sẽ phải chuyển sang những nhánh khác trong Toán học.”

10. 5 tháng sau, Chern qua đời, và Yau đã có những cố gắng hết sức cay cú nhằm mục đích chắc chắn rằng ông ta – chứ không phải Tian – được công nhận là người kế vị Chern. “Tất cả là vì địa vị đứng đầu của họ tại Trung Quốc và vai trò lãnh đạo của họ trong số những người Trung Kiều,” Joseph Kohn, nguyên trưởng khoa Toán ĐH Princeton nói. “Yau không ghen tỵ với Tian về chuyên môn, nhưng ông ta ghen tỵ với ảnh hưởng của Tian tại Trung Quốc.”
Cho dù, từ khi còn là một đứa trẻ sơ sinh, nhiều nhất Yau cũng chỉ có mặt tại Trung Quốc có vài tháng mỗi lần, ông tin chắc rằng với vị thế người Trung Quốc duy nhất đoạt giải Fields, ông phải là người kế vị Chern. Trong một bài phát biểu tại ĐH Zhejiang tại Hàng Châu trong mùa hè năm 2004, ông gợi lại cho cử tọa về nguồn cội Trung hoa của mình. “Khi tôi bước xuống máy bay, tôi chạm vào mặt đất của Bắc Kinh, và tôi cảm thấy một niềm vui vô bờ khi được trở lại quê hương của mình,” ông nói. “Tôi rất tự hào để nói rằng khi tôi được trao tặng Huy chương Fields, tôi không mang hộ chiếu của nước nào khác, và phải được công nhận là người Trung Quốc.”
Mùa hè sau đó, Yau về Trung Quốc, và trong một loạt phỏng vấn với các nhà báo, ông tấn công Tian và các nhà toán học tại ĐH Peking. Trong một bài báo đăng trên một tờ báo khoa học Bắc Kinh với tựa đề ““SHING-TUNG YAU LÊN ÁN THAM NHŨNG TRONG GIớI HÀN LÂM TRUNG QUốC,” Yau gọi Tian là “một sự bừa bãi kinh khiếp.” Ông cáo buộc Tian cùng một lúc đã giữ chức vị giáo sư tại nhiều nơi và đã đòi 125 nghìn đô-la cho vài tháng làm việc tại một trường đại học tại Trung Quốc, trong khi các sinh viên phải sống cả tháng chỉ với vài trăm đô la. Ông cũng buộc tội Tian gian lận học bổng, ăn cắp ý tưởng và ép buộc các nghiên cứu sinh phải đề tên mình vào bài báo của họ. “Bởi vì tôi đã ủng hộ anh ta trong suốt quá trình cho đến khi anh ta thành danh trong giới hàn lâm, tôi cảm thấy mình cũng phải chịu trách nhiệm cho những cư xử không đứng đắn của Tian,” một nhà báo trích lời giải thích của Yau cho việc tại sao ông đã phải nói ra những điều này.
Trong một phỏng vấn khác, Yau kể lại việc Hội đồng trao giải Fields đã không xem xét đến trường hợp của Tian trong năm 1988 và việc ông ta đã vận động cho Tian với các hội đồng trao giải khác gồm cả một hội đồng của Quỹ Khoa học quốc gia, nơi đã trao thưởng 500 nghìn đô la cho Tian vào năm 1994.
Tian hết sức hoảng hốt khi bị Yau tấn công, nhưng vì đã là học trò của Yau, Tian cảm thấy không thể làm được gì. “Những lời buộc tội của Yau là hoàn toàn vô căn cứ,” Tian nói với chúng tôi. Và anh nói thêm rằng, “tôi có cội rễ sâu xa trong văn hóa Trung Quốc. Thầy là thầy, và luôn đáng kính. Rất khó khăn cho tôi khi nghĩ mình sẽ phải làm gì.”
Trong thời gian ở Trung Quốc, Yau đến thăm Xi-Ping Zhu, một học trò cũ (protégé) của ông, người đang là trưởng khoa toán ĐH Sun Yat-sen. Trong mùa xuân năm 2003, sau khi Perelman hoàn thành đợt thuyết trình của mình tại Mỹ, Yau đã tuyển Zhu và một đệ tử khác của mình, Huai-Dong Cao giáo sư ĐH Lehigh, vào công việc kiểm chứng lời giải của Perelman. Zhu và Cao đã nghiên cứu dòng Ricci cùng với Yau. Yau đặc biệt quan tâm đến Zhu, người mà ông tin rằng sẽ trở thành một nhà toán học đầy hứa hẹn. “Chúng ta phải tìm hiểu xem bài báo của Perelman có toàn vẹn không,” Yau nói với họ. Yau đã sắp xếp cho Zhu sang ĐH Havard nghiên cứu trong năm học 2005-2006. Tại đây Zhu đã có một buổi báo cáo về bài chứng minh của Perelman và tiếp tục công việc của mình với Cao.

 

11. Vào ngày 13 tháng Tư năm nay (2006), 31 nhà toán học trong ban biên tập Tạp chí Toán học Châu Á (A.J.M.) nhận được một e-mail ngắn từ Yau và vị đồng chủ biên Tạp chí. Họ được thông báo rằng họ sẽ có 3 ngày để cho lời bình luận về một bài báo của Xi-Ping Zhu và Huai-Dong Cao có tên “Lý thuyết Hamilton-Perelman về dòng Ricci: Các giả thuyết Poincaré và hình học hóa,” Yau đã lên kế hoạch đăng bài báo này trong tạp chí. Không hề có bản sao bài báo hay phản biện của các nhà phê bình, hay một bản tóm lược gì được đính kèm trong e-mail. Ít nhất đã có một thành viên ban biên tập muốn được xem bài báo này, nhưng được trả lời việc đó là không thể. Vào ngày 16 tháng Tư, Cao nhận đuợc một tin nhắn của Yau nói rằng bài báo đã được chấp nhận cho đăng trên tạp chí A.J.M, và một bản tóm lược đã được đưa lên trang chủ của tạp chí.
Một tháng sau, Yau ăn trưa tại Cambridge cùng với Jim Carlson, giám đốc của Viện Clay. Ông nói với Carlson rằng ông muốn trao đổi một bản sao bài báo của Zhu và Cao lấy một bản sao của bản thảo công trình kiểm chứng của Tian và Morgan. Yau đã nói với chúng tôi rằng ông ấy lo ngại Tian có thể đánh cắp một số thứ từ công trình của Zhu và Cao, và ông muốn cả hai bên cùng được biết bên kia đã làm những gì. “Tôi đã dùng bữa trưa với Carlson để yêu cầu trao đổi hai bản thảo nhằm mục đích chắc chắn rằng không bên nào sao chép bên nào,” Yau nói. Carlson đã tỏ ra chần chừ và giải thích với Yau rằng Viện Clay vẫn chưa nhận được bản thảo hoàn thiện của Tian và Morgan.
Đến cuối tuần sau đó, tựa đề bài báo của Zhu và Cao trên trang chủ tạp chí A.J.M đã được đổi thành “Bài chứng minh hoàn thiện các giả thuyết Poincaré và hình học hóa: Ứng dụng của Lý thuyết Hamilton-Perelman về dòng Ricci.” Phần tóm lược của bài báo cũng đã được sửa lại. Một câu mới đã được thêm vào: “bài chứng minh này nên được coi là một thành tựu to lớn của Lý thuyết Hamilton-Perelman về dòng Ricci.”
Bài báo của Zhu và Cao dài hơn 300 trang và chiếm trọn kỳ tháng 6 của tạp chí A.J.M. Nội dung chủ yếu của bài báo này là xây dựng lại các kết quả của Hamilton về dòng Ricci – bao gồm cả các kết quả Perelman đã sử dụng trong bài chứng minh của mình – và phần lớn bài chứng minh giả thuyết Poincaré của Perelman. Trong phần giới thiệu của bài báo, Zhu và Cao công nhận công lao của Perelman với việc “đã có những ý tưởng mới mẻ trong việc tìm ra các bước quan trọng để giải quyết được các chướng ngại chủ yếu trong chương trình của Hamilton.” Tuy vậy họ cũng viết rằng, họ đã buộc phải “thay đổi một số lập luận then chốt của Perelman bằng những cách tiếp cận mới của chính chúng tôi, bởi lẽ – tuy những lập luận gốc rễ này của Perelman có vai trò vô cùng quan trọng cho việc hoàn chỉnh lời giải cho giả thuyết hình học hóa – chúng tôi đã không thể hiểu nổi chúng.” Những nhà toán học quen thuộc với bài chứng minh của Perelman đã có tranh cãi về ý kiến cho rằng Zhu và Cao đã có những đóng góp mới mẻ đáng kể cho việc chứng minh giả thuyết Poincaré. “Perelman đã làm điều đó rồi và những cái anh ta làm là hoàn hảo và chính xác,” John Morgan nói. “Tôt không thấy Zhu và Cao đã làm thêm được điều gì khác.”
Vào đầu tháng Sáu, Yau bắt đầu quảng bá cho bài chứng minh của hai học trò một cách công khai. Ngày 3 tháng Sáu, tại viện toán của mình tại Bắc Kinh, Yau tổ chức học báo. Yau, cũng là chủ tịch của viện toán, trong một cố gắng giải thích về phần đóng góp tương ứng của các nhà toán học đã nghiên cứu giải quyết giả thuyết Poincaré, đã nói rằng, “Hamilton đóng góp hơn 50%, người Nga, Perelman đóng góp khoảng 25%, và người Trung Quốc: Yau, Zhu và Cao, đóng góp khoảng 30%.” (Hiển nhiên rằng một bài tính cộng đơn giản đôi khi cũng có thể gây khó khăn ngay cả cho một nhà toán học.) Yau cũng nói thêm rằng, “Với tầm quan trọng của giả thuyết Poincaré, 30% đóng góp của các nhà toán học Trung Quốc không phải là một việc dễ dàng chút nào. Đó là một đóng góp hết sức quan trọng.”
Vào ngày 12 tháng Sáu, một tuần trước hội thảo về Lý thuyết dây của Yau tại Bắc Kinh, nhật báo South China Morning Post đã viết “các nhà toán học Trung hoa tham gia giải quyết ‘bài toán của thiên niên kỷ’ sẽ trình bày các phát kiến và phương pháp luận với nhà vật lý Stephen Hawking, … Yau Shing-Tung, người đã mời giáo sư Hawking sang thăm và cũng là thầy của giáo sư Cao, đã thông báo vào hôm qua rằng ông sẽ trình bày các kết quả với giáo sư Hawking, và tin rằng những kiến thức mới mẻ này sẽ hữu dụng cho những nghiên cứu về sự hình thành các lỗ đen của Hawking.”
Vào buổi sáng ngày Yau giảng bài trong hội thảo, ông nói với chúng tôi rằng, “Chúng tôi muốn mọi người hiểu được những đóng góp của chúng tôi. Và đây cũng là một sự khuyến khích cho Zhu, người đang làm việc tại Trung Quốc và đã hoàn thành một nghiên cứu thật sự ngoạn mục. Ý tôi là, đó là một nghiên cứu quan trọng về một bài toán thế kỷ, nhiều khả năng sẽ có những liên hệ quan trọng trong vài thế kỷ nữa. Nếu bạn có thể kèm tên của mình vào bằng một cách nào đó, thì đó là một sự đóng góp.”

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.