Để thành công trong 2007? 50 bộ óc sáng chói trả lời!

Tạp chí Bussiness 2.0 phỏng vấn 50 người giỏi giang nhất về việc làm thế nào để đạt tới thành công trong 2007.

How to Succeed in 2007

http://money.cnn.com/popups/2006/biz2/howtosucceed/index.html

How to build the next Google

Rachael Ray

Rachael Ray – Celebrity chef

Craig Newmark – Craigslist

Chad Hurley – YouTube

Stewart Butterfield – Flickr

Kevin Rose – Digg

How to stay a step ahead

Sergey Brin

Sergey Brin – Google

Reed Hastings – Netflix

Chris DeWolfe – MySpace

Brad Anderson – Best Buy

Michael Dell – Dell Computer

How to be a great leader

Richard Branson

Richard Branson – Virgin Group

Donald Trump – Trump Organization

Anne Mulcahy – Xerox

Paul Jacobs – Qualcomm

Michael ScottThe Office

How to make a comeback

Andre Agassi

Andre Agassi – Agassi Graf Development

Alan Hassenfeld – Hasbro

Edgar Bronfman Jr. – Warner Music

Brad Garlinghouse – Yahoo

Carly Fiorina – Hewlett-Packard (formerly)

How to do well by doing good

Howard Schultz

Howard Schultz – Starbucks

Muhammad Yunus – Nobel Peace Prize winner

Laura Scher – Working Assets

Malcolm GladwellThe Tipping Point

Vinod Khosla – Khosla Ventures

Web 2.0 và cultural impact – 2

 

Thời đại của mass niches và Quyền lực suy giảm của BigBoys. Hãy nhìn vào hình trên, nó là The Long Tail. Phần đầu của nó tuy nhỏ nhưng chiếm phần lớn diện tích, nói ngắn gọn lại 20% thiểu số chiếm tới 80% quyền lực, hoặc thậm chí cực đoan hơn 10% thiểu số chiếm tới 90% quyền lực – thể hiện quy luật Pareto 80/20. Và thế giới cũng hoạt động như vậy, 80% thông tin chạy qua sự kiểm soát của 20% thiểu số, cho tới ngày có Internet, Google và Chris Anderson phát hiện ra The Long Tail (wiki , TheLongtail.com ). Trong tiếng Anh, một số từ đặc biệt như "a, the, it, is, are ….) có độ thông dụng cao hơn rất nhiều so với các từ khác, nhưng nếu đếm tất cả từ ngữ trong các bài viết thì số từ thiểu số chiếm trên 2/3. Amazon.com cũng phát hiện ra rằng tổng doanh thu từ số sách không nổi tiếng vượt trội tổng doanh thu từ các best sellers, dù rằng doanh thu của từng best seller một so với loại sách không nổi tiếng là gấp hàng nghìn lần. Nói cách khác, anh có quyền lực cao hơn tôi rất nhiều, nhưng vì những người như tôi chiếm một số lượng lớn khủng khiếp, tổng lại tất cả chúng tôi có sức mạnh vượt trội số ít các anh. Long Tail không phải là quy luật vạn vật, nó sẽ xảy ra khi mà sức mạnh của đa số yếu ớt được giải phóng.

Và điều đó đã xảy ra trên Internet, với Google giúp hàng trăm ngàn niche websites, với sự vượt trội về số lượng, thay đổi cán cân quyền lực về kẻ yếu. Cưỡi trên làn sóng này, chỉ trong vòng 7 năm, từ một công ty thuê gara ô tô để đặt máy chủ, tới ngày nay Google đã có giá trị thị trường bằng 50% giá trị của Microsoft, một số chuyên gia thái quá còn dự đoán rằng, Google sẽ có thể có giá trị thị trường gấp đôi Microsoft vào thời điểm đỉnh cao, và là công ty đầu tiên vượt qua con số 1000 tỷ giá trị thị trường. Dù rằng đây là các suy đoán có phần cực đoan, nhưng nó cũng không làm mất đi giá trị của bằng chứng về sức mạnh của các niche websites. Hãy nhớ rằng từ mỗi click, Google chỉ thu được vài xu.

Quay lại một chút về niche media và mass media. Các báo điện tử lớn, như The NewYork Time, BusinesdWeek, CNN hay Reuter là các phương tiện thông tin đại chúng (mass media) luôn có lượng truy cập lớn nhất, vươn tới hàng triệu, thậm chí hàng tỷ độc giả. Nhưng thông tin của chúng quá chung và không đủ chuyên sâu, liệu có một tờ báo điện tử nào có thể có được các bài đánh giá về điện thoại như mobilereview.com, thông tin về công nghệ mới như Techrunch, hay cách nuôi chó của một tạp chí online chuyên sâu nào đó. Giá trị của mass media là ở chỗ chúng rộng khắp, mọi người đều cần chúng; giá trị của niche media là ở chỗ chúng chuyên sâu nhắm vào các ngách nhỏ, và đặc biệt là sự đa dạng khiến cho số lượng và giá trị tổng hợp của chúng trở nên khủng khiếp. Trong số 24 tỷ trang web trên index của Google, có lẽ chưa tới 1% thuộc về mass media. Chúng ta sẽ dùng thuật ngữ của Chris Anderson – the mass of niches để thể hiện sức mạnh của các niche websites.
Và đừng nhầm, The Long Tail không nói rằng mass media (kẻ mạnh) yếu đi, nó chỉ cho ta thấy rằng niche media (kẻ yếu) trở nên có nhiều quyền lực hơn, cả hai cùng tăng, nhưng kẻ yếu tăng với tốc độ nhanh hơn, cũng đừng cho rằng mass sẽ diệt niche hay niche sẽ diệt mass, chúng là Đầu (mass) và Đuôi (niche) của cùng một Long tail, song song tồn tại và bổ trợ lẫn nhau. Việt nam có 80 triệu dân, ồ không TQ có 1 tỷ dân, toàn châu Á có gần 1/2 dân số thế giới – chúng ta đang yếu, nhưng đó chính là sức mạnh khủng khiếp đang được chờ giải phóng.

Tiếp tới, thay vì việc tán thưởng, chúng ta sẽ tìm hiểu xem, Google đã giải phóng tiềm năng của mass niche như thế nào. Một tạp chí chuyên sâu về Hoa hướng dương sẽ không thể tồn tại trong một thế giới offline, bởi vì việc tìm kiếm độc giả phù hợp, phát hành và phân phối nội dung tới các độc giả này là hầu nhưng khả thi do các hạn chế về chi phí và nguồn lực. Nhưng khi tạp chí này chuyển sang phát hành qua Interernet trên một websites vấn đề phát hành và phân phối nội dung đã được giải quyết, Google giải quyết nốt khó khăn còn lại "tìm kiếm độc giả", trên thực tế đó là Google giúp độc giả tìm ra bạn. Nếu website của bạn thực sự là niche và thông tin của bạn có giá trị, thì chi phí cho việc độc giả quan tâm tới Hoa hướng dương tìm ra site của bạn trên Internet là bằng 0, bởi vì bạn sẽ hiện lên ở trang kết quả tìm kiếm đầu tiên. Nếu sites của bạn không đủ điều kiện để lên được trang đầu, Google AdWords sẽ giúp bạn, hãy mua một vài từ khóa liên quan tới niche của bạn, và mỗi khi người ta tìm kiếm, Google sẽ đưa site bạn hiện lên trong vùng quảng cáo. Chi phí cho việc này là bao nhiêu? Ở mức tối thiểu nó là 1 cent cho mỗi lần người đọc đến site của bạn nhờ có Google. Thử nghĩ xem, liệu site hay sản phẩm của bạn với chi phí đó có bao giờ lên nổi Vnexpress, VNN, Dân Trí chứ đừng nói tới The NewYork Time. Bởi vì khi bạn Google tức là bạn biết rõ bạn đang tìm gì, nên bạn sẽ chỉ bấm vào các đường link mà bạn cảm thấy hữu ích, từ phía niche sites điều này có nghĩa là người đến với site của bạn thực sự quan tâm và cần tới thông tin trên website của bạn, xác suất để biến họ thành độc giả thường xuyên sẽ sao hơn một quảng cáo thông thường. Thử hình dung bạn vào Dân trí, đọc một bài báo về công nghệ thông tin, và nhìn thấy biểu tượng của Trần Anh nhấp nháy, liệu bạn có bấm vào đấy và mua một chiếc máy tính, hay sẽ lẩm bẩm, làm gì mà lắm quảng cáo thế? Về phần tôi, tôi đã adblock (chặn không cho quảng cáo hiển thị) chúng trên tất cả các báo điện tử Việt nam và quốc tế, chúng quá khó chịu. Nói cách khác, Google giúp bạn được đúng độc giả, đúng vào lúc họ cần tới bạn và với chi phí hiệu quả nhất. Tìm kiếm không chỉ đơn thuần giúp chúng ta phát hiện nội dung, đôi lúc chúng ta phát hiện ra một bài báo hay, một tờ báo niche phù hợp, hay một niches communities, và chúng sẽ bắt đầu tham gia vào nó, khiến cho site đó phát triển hơn, xác định được phong cách của riêng nó. Nói cách khác Google giúp những người có quan tâm chung tập hợp lại, hình thành niche của mình và phát triển.

Có thực mới vực được đạo. Tuy vậy, cũng cần nhớ rằng mọi thứ đều cần tiền, để nuôi được niche site của bạn, bạn cũng cần tiền. Nội dung trên internet đa phần là miễn phí, bạn không có nguồn thu trực tiếp, và chi phí để nuôi một người đi bán từng banner quảng cáo có khi còn lớn hơn cả nguồn thu của bạn. Và Google đã giải phóng sức mạnh của các niche sites lần nữa, khi họ đưa ra AdSense, một công cụ tạo nguồn thu cho mass niche. Nhúng vài dòng code vào website, Google sẽ lựa chọn quảng cáo thích hợp, đặt vào bài báo của bạn, mỗi khi có một ai đó bấm vào link của AdSence, Google thu tiền của người quảng cáo rồi chuyển trả cho bạn. Việc của bạn còn lại chỉ là hãy viết các bài báo thật hay để thu hút độc giả trong niche của bạn rồi đi ngủ, ngay cả lúc bạn ngủ Google vẫn liên tục thu tiền hộ bạn. Khoản tiền thu được có thể lên tới hàng chục ngàn USD một tháng – nhiều người đã bỏ việc để tự xuất bản, nhưng cũng có thể chỉ đủ để uống bia. Nhưng điều quan trọng là mass niche bây giờ đã có thể kiếm được tiền, và khi có tiền thì nó có đủ điều kiện và động lực để phát triển.

Thử lấy tự truyện Lê Vân để so mô tả hiệu ứng Google. Với lượng phát hành 10,000 bản Lê vân thu được khoảng 60 triệu, tính rộng rãi ra là 100 triệu. Nhưng nếu cùng với mức độ nổi tiếng đó Lê Vân phát hành online, đăng 10 kỳ liên tiếp trong vòng 02 tháng,  mỗi trang có  2 quảng cáo banner, 3 quảng cáo text, giả định có 3 triệu công dân mạng truy cập và tìm đọc, thì số tiền Lê Vân kiếm được có thể dao động từ 500 triệu tới vài tỷ. Điều này có nghĩa là gì? Thứ nhất, bạn có thể kiếm nhiều tiền hơn nhờ online; Thứ hai, bạn không cần phải là nhà xuất bản chuyên nghiệp để có thể phát hành sách, các văn sỹ rẻ tiền như Oẳn, hay thậm chí Opps cũng có cơ hội kiếm được tiền. Từ đó cơ hội cho hàng trăm, thậm chí hàng ngàn tác giả như vậy xuất hiện. Dù rằng số tiền Oẳn, Opps kiếm được có thể thấp hơn so với số Lê Vân kiếm được, nhưng ít nhất họ cũng có phần thưởng cho công sức của mình và có thể dùng số tiền ít ỏi đó để làm cho mình trở nên xinh hơn; Thứ ba, vì nội dung là miễn phí và luôn sẵn sàng trên Internet, số lượng độc giả sẽ tăng vọt, vượt xa con số 10,000 đầu sách bán được, đối với người viết thì còn gì mong đợi hơn thế nũa. Người đọc cũng được lợi, không phải tốn tiền, không phải tốn công họ vẫn được đọc; Cuối cùng và quan trọng nhất, mô hình kinh doanh cho niche đã thay đổi, cho không nội dung để có thật nhiều độc giả còn Google  (hoặc các cty khác) sẽ kiếm tiền hộ bạn. Một lần nữa, đừng nhầm khi hiểu rằng các best seller Harry Porter cũng nên chuyển sang xuất bản trên mạng, chúng ở phía đầu của Long Tail, còn số lượng đông đảo các One, Opps nắm ở phía đuôi của Long Tail.

Nói tóm lại, Google đã giúp gì cho kẻ yếu? Với người đọc, người tìm kiếm Google giúp ta đến được với thông tin ta cần, hoàn toàn miễn phí. Với người phát hành/người có nội dung Google tạo kênh truyền thông cho tiếng nói chúng ta dược hiện diện, websites được tìm thấy và tiếp cận bởi độc giả ngách hẹp, và có nguồn thu để tiếp tục duy trì tiếng nói của mình.

Web 2.0 và cultural impact

Tại bài viết của mình ở http://blog.360.yahoo.com/blog-7yYk…XXjBDjYA8SR?p=6
Thổ Phỉ đặt câu hỏi

Toàn cầu hóa hay Mỹ hóa?
Các cơ chế tự tìm kiếm nội dung như RSS (Really Simple Syndication-Dịch vụ cung cấp thông tin cực kỳ đơn giản) hay Podcast, tưởng chừng như sinh ra để giản tiện hóa thao tác của con người, thực ra chỉ hạn chế quyền lựa chọn nội dung của người đọc, một cách tinh vi biến họ đơn thuần trở thành nô lệ của những đế chế truyền thông hiện đại như Yahoo hay Google. Hãy nhìn sự thay đổi trong giao diện của Yahoo, xuất phát điểm từ một trang cung cấp dịch vụ tìm kiếm và thư điện tử miễn phí cho đến khi trở thành một nhà cung cấp nội dung hàng đầu hiện nay trên Internet, cái cách những thông tin thời sự được nó cung cấp trên trang chủ của mình chẳng mấy chốc sẽ khiến một người Việt nam còn tường tận tin tức bên ngoài hơn chính tin tức xẩy ra trong thành phố mà mình đang sinh sống.

I. Internet 2.0: cán cân quyền lực nghiêng về kẻ yếu
Hàng chục năm về trước các nhà "luyến tiếc quá khứ" vĩ đại cũng đã viết không ít bài buồn bã về việc Mỹ hóa. Coca cola, kẹo cao su, điện ảnh Hollywood và MTV được nêu ra như các bằng chứng của việc sức mạnh kinh tế Mỹ đã giúp cho văn hóa của họ xâm thực châu Âu và Á như thế nào. Dù còn nhiều tranh cãi, nhưng quan điểm này cũng không phải không có lý: sức mạnh kinh tế giúp cho sản phẩm/dịch vụ tràn vào và đi cùng với nó là lối sống Mỹ.
Ngày nay, lập luận này một lần nữa lại tái hiện, nhưng dưới cái vỏ mới. Thủ phạm chính là Internet với Google, Yahoo là hai mục tiêu chính của sự chỉ trích. Người ta coi  Google, Yahoo là công cụ của kẻ mạnh, giúp nước Mỹ biến chúng ta thành nô lệ của thông tin. Nhưng, thực tế là
* Google và Yahoo không hẳn là các đế chế truyền thông bị kiểm soát bởi những kẻ mạnh, mà là môi trường truyền thông tin khách quan chưa từng gặp.
* Web 2.0 không chỉ bao gồm Google và Yahoo, mà còn nhiều lực lượng quan trọng khác ảnh hưởng tới việc truyền bá thông tin trên Internet hay văn hóa.
* Web 2.0 giúp cán cân quyền lực nghiêng về kẻ yếu, và chúng ta chính là kẻ yếu. 

1. Google – The King of Search.
Google không phải là đế chế truyền thông, vì một lý do đơn giản nó không sở hữu nội dung, cũng không can thiệp vào quá trình tổng hợp nội dung.
Sứ mệnh của Google là giúp hầu như mọi thông tin trên thế giới trở nên hữu ích và dễ dàng tiếp cận, bất kể  thông tin đó thuộc về ai: nước Mỹ,  các nước nghèo, người giàu, kẻ mạnh, hay thậm chí  các nhóm khủng bố.

Hiện diện.  Với 24 tỷ trang web có mặt trong Google index, một điều chưa từng có đã xảy ra, tiếng nói của kẻ yếu từ nay đã có thể hiện diện và truy cập được.  Trước thời Google, để đưa được tiếng nói lên các phương tiện thông tin đại chúng không phải là đơn giản, bạn phải có quyền lực, có tiền hoặc phải là một trường hợp nổi tiếng đặc biệt. Một khi CNN, BBC không đưa tin, bạn khó có thể biết nơi nào đang chống cuộc chiến tranh nào, những ai có cùng ý tưởng chính trị. Nói cách khác các mạng lưới truyền thông Anh/Mỹ đã không chế hầu hết thông tin toàn cầu. Trong thời đại Internet, bạn chỉ cần tìm kiếm và sẽ nhanh chóng tìm ra những website có cùng ý chí ( mục đích)chống chiến tranh cùng bạn, từ đó tập hợp lại, trở thành một lực lượng, một tiếng nói.

Không có Google, sẽ không ai biết về bạn. : Một câu chuyện khác mà nhiều người biết: Ungthu.net, gạt qua một bên tất cả các vấn đề khác, hãy thử nhìn nó từ khía cạnh Google. Thật sự mà nói, tôi biết về câu chuyện Ungthu.net thông qua một người bạn chứ không phải từ Google. Nhưng khi tôi bắt đầu quan tâm tới trang web này, với một phép tìm kiếm, chỉ trong 2 phút Google đã giúp tôi tìm thấy và đọc Ungthu.net. Không có sự tiện lợi và nhanh chóng của Google thì vẫn có cách để đọc bài viết trên Ungthu.net, nhưng những kẻ lười nhác như tôi sẽ đơn giản là gạt Ungthu.net ra một bên. Với sự hỗ trợ của Google, những thứ vốn yếu đuối như: ca trù, một em bé bị ung thư, hay công trình hạ bệ Einstein của KTS dở người Minh Trí từ nay đã được nói và có cơ hội được nghe thấy trên toàn thế giới.

Raising Children With Love

Thương cho roi cho vọt

Lần gợn đầu tiên xảy ra cách đây khoảng 4-5 năm, khi mà Bông đòi ăn kem. Mình gật, nhưng Bông chần chừ, rồi quay sang hỏi mẹ xem có được ăn không. Mẹ nó trả lời không được, con đang viêm họng, Bông vui vẻ thôi không đòi nữa. Cảm giác bực mình vì con nghe mẹ mà không nghe ba. Mẹ nó cũng nhận thấy cười cười nói “không phải là nó không tôn trọng anh đâu, mà vì nó tin cậy em”. Gợn một chút, “à ha, tin cậy và tôn trọng”, rồi đâu lại vào đấy.

Vẫn là cách dạy con bài bản, kỷ luật, nghiêm khắc. Bông lớn lên là một đứa trẻ ngoan, nhiều người khen tấm tắc. Tự giải quyết các vấn đề của mình, biết tự lo và chăm sóc mình, học hành đúng giờ giấc, tự giác chịu phạt. Còn mình thì trở thành ông ngáo ộp của gia đình. Mỗi khi Bông bướng bỉnh, không kiềm chế được mình, gào thét ầm ỹ với mẹ. Chi cần ba nói cao giọng lên một chút “Bông thôi đi” là mọi việc kết thúc, nó thậm chí quên ngay cả nỗi bực mình, mà vui vẻ chuyển sang chuyện khác. Một lần Bông ốm nặng, ba mẹ dỗ thế nào cũng không chịu uống thuốc, đành quát to lên một câu, Bông giật mình lẳng lặng uống hết chỗ thuốc rồi nằm xuống ngủ. Không mếu, không khóc, chỉ là lẳng lặng nghe theo.

Vẫn là “thương cho roi cho vọt” cho tới khi lần gợn thứ 2 xuất hiện. Đó là khi đang bực mình cái gì đó, gằn giọng gọi “Bông”. Bông chạy vào “gì hả ba?”, với một cặp mắt run rẩy, không biết điều khủng khiếp gì đang chờ đợi mình, cam chịu dù không hiểu nó có tội gì. Giật mình và không nói gì. Hóa ra mình đã trở thành một ông ngáo ộp. Bông mừng rỡ vì thoát nạn. Còn mình lắng lại một chút.

Bim chính là lần gợn tiếp theo. Nó không tuân theo quy luật đã định sẵn. Mặc dù ba nó vẫn có quyền lực tuyệt đối, mỗi khi cần lũ trẻ tuân theo một việc gì đó, chỉ cần ba nó quát lên, thì lập tức mọi chuyện sẽ êm đẹp, chúng sẽ vui vẻ tuân theo. Nhưng có một khác biệt giữa Bông và Bim. Đó là khi Bim sợ vì bị mắng, nó nhắm mắt lại và mếu. Không chút phản kháng, nhưng tủi thân, nằm thu lu úp mặt xuống giường. Mẹ nó thường bảo “nhìn cái thằng này mếu trông có yêu không”. Và cái sự mếu đó của Bim đã khiến một người cứng rắn như ba nó cũng phải động lòng, buộc ba nó phải ngẫm nghĩ. OK! chúng vẫn yêu ta, nhưng chúng nghe ta với sự sỡ hãi, nhiều hơn là tin cậy. Chúng tin mẹ chúng.

Và càng ngày càng gợn. Chúng nghe ta vì chúng mặc định rằng phải nghe ta, chúng sợ ta, không phải vì chúng hiểu rằng ta làm vậy chính vì quyền lợi của chúng, không phải vì chúng tin rằng người yêu chúng luôn luôn yêu cầu chúng làm những điều có lợi cho chúng. Chúng không nghe khi mẹ quát, nhưng chúng tin vào tình yêu của mẹ.

Tự truyện của Lê Vân là cú hích cuối cùng, phá vỡ thành trì đó. Đọc Lê Vân, nhớ lại thái độ sợ hãi không dám nói của Bông, bộ mặt mếu của Bim, chợt hiểu ra nỗi đau của Lê Vân đến mức độ nào. Năm mươi năm không dám nói, năm mươi năm thèm khát mà không dám thể hiện nhu cầu tình cảm của mình với bố. Nghĩ lại về Bông và Bim, giật mình, liệu chúng có phải quên ngay mọi thứ như ba chúng nghĩ, hay sẽ không dám nói mà giữnỗi sợ hãi trong lòng tới tận 50 năm. Giật mình không phải vì lo sau này chúng sẽ viết báo về ba chúng, mà vì lo rằng, liệu chúng có phải chịu nỗi khố sở của việc 50 năm giấu nỗi ấm ức trong lòng, nếu thế thì sẽ tội nghiệp cho chúng lắm.

May be I’m wrong! Thương không phải là cho roi cho vọt? Và như thường lệ, một khi câu hỏi được đặt, thì câu trả lời sẽ đến rất nhanh. Hai ba ngày  và một cuộc thảo luận nhỏ trên YM đã cho câu trả lời: “Yes, I was wrong. Raising the children with love.”

Raising Children With Love

Chúng ta đều giống nhau ở mong muốn con cái trưởng thành, thành công và hạnh phúc, chúng ta chỉ khác nhau ở phương pháp nuôi dạy chúng. Hãy trả lời các câu hỏi dưới đây và lựa chọn cuối cùng thuộc về bạn: “Thương cho roi cho vọt” hay “Raising Children With Love”

Muốn con bạn hạnh phúc?

Con bạn có thể thành công, nhưng liệu nó có hạnh phúc nếu cả cuộc đời nó không dám chắc rằng bố mẹ nó luôn yêu nó?
Con bạn có thể thành công, nhưng liệu sự thành công đấy có mang lại hạnh phúc cho người khác, khi nó không được dậy để biết cách yêu thương?

Muốn năng khiếu con bạn phát huy ?

Liệu một đứa trẻ sống trong sự lo sợ có dám bộc lộ khát vọng của nó với bạn?
Liệu một đứa trẻ luôn lo lắng bị trừng phạt có dám hành động theo tiếng gọi của trái tim nó chứ không phải theo các mong ước của bạn?

Muốn con bạn không sai lầm?

Làm thế nào để con bạn sẵn sàng kể cho bạn những gì diễn ra ở trường, lớp và quan hệ bạn bè của nó. Làm thế nào để con bạn tin rằng mỗi lời bạn khuyên đều vì lợi ích của nó. Làm thế nào để mỗi khi có khó khăn không tự mình giải quyết được nó sẽ đến tìm bạn. Làm cách nào? Nếu không phải là chiếm được tình yêu, sự tin cậy và thông cảm của con bạn

Muốn con bạn tự tin?

Liệu một đứa trẻ luôn cúi gằm trước bạn có thể đứng tự tin trước mọi người?
Liệu một đứa trẻ không tự tin rằng nó được yêu sẽ không cảm thấy mình thất bại và bất hạnh?
Liệu một người có dám xông lên phía trước, khi không chắc được rằng luôn có một nơi cư trú cuối cùng, với lòng tin và tình yêu tuyệt đối – trong lòng cha mẹ?

Và bạn có thể sẽ hỏi tôi, nếu không nghiêm khắc thì làm sao con cái có thể lớn lên thành người. Câu trả lời thật đơn giản, đó chính là thách thức mà mỗi bậc cha mẹ phải vượt qua, để cho con cái chúng ta được dạy dỗ và lớn lên trong tình yêu.

No choice is the best choice – Bài viết hay của friend.

Bài viết rất hay về idea, tuy tôi chưa thật sự thích cách thể hiện nội dung, nhưng hy vọng mọi người có thể tóm được ý của Kha

http://blog.360.yahoo.com/blog-eOuN1DQydKj8hCA5vIWJ?p=251

From Kha

Tuy nhiên, điều quan trọng nhất đem lại sự thành công (cả trong công việc hay trong tình yêu) không phải là chúng ta lựa chọn cái gì mà chính là cách chúng ta thực hiện và thích nghi với sự lựa chọn đó như thế nào. Có những người không có gì để lựa chọn, phải bắt đầu bằng những công việc rất bình thường như làm cửu vạn ở một khu chợ hay làm thức ăn gia súc (mà chắc chắn chúng ta sẽ không muốn làm ngày nay khi có nhiều sự lựa chọn) cũng có thể thành doanh nhân thành đạt. Nhưng có những người có điều kiện lựa chọn nhiều thứ thì lại không bao giờ làm được việc gì ra hồn, chính bởi họ có quá nhiều sự lựa chọn, khiến cho có thể từ bỏ nếu thấy khó khăn để lựa chọn cái khác dễ dàng dàng hơn.

Đôi khi, không có sự lựa chọn nào lại là một sự may mắn, một cơ hội để được thử thách và rèn luyện và ai vượt được thử thách này sẽ là người chiến thắng và ngược lại sẽ bị đảo thải.