Viết nhanh: Chrome là đối thủ của IE hay FF?

Không hiểu sao nhiều người hay phân tích Chrome vs FF. Đứng từ góc độ chia sẻ nhu cầu và giá trị thì

1. Mainstream users, Gọn nhẹ: Chrome, IE8 > IE7, IE6 –> Chrome và IE8 lấy thị phần của IE7, IE6

2. Mainstream users, Upgrate tiện lợi: IE8 lấy thị phần từ IE7, IE6

3. Mainstream users, Marketing power: Chrome phân phối và thương hiệu qua Google. Chrome lấy thị phần của MS, không tác động được vào FF

4. Advanced users, Chức năng, tiện lợi: FF > Chrome, IE. Chưa rõ FF đạt peak  hay không trong mảng này, nhưng xu hướng user ngày càng advanced. FF lấy thị phần của IE, Chrome không tranh được.

5. Advanced users, Web2.0 apps, JS: Chrome, FF > IE6, IE7 đáng kể. Chrome, FF lấy thị phần của IE. Nhưng tốc độ lấy phụ thuộc vào ý tốc độ tăng trưởng của Advanced user. Web 2.0 giảm hot –> không chừng trend còn bị đảo ngược.

6. Anti Microsoft user/Apple và Linux Fanboi: Chrome = FF. Chrome lấy thị phần của FF

Tổng hợp lại, và ước tính trọng số thị phần của IE thì có vẻ Chrome đánh vào base của IE nhiều hơn là làm được gì FireFox, thậm chí có thể Chrome mò cho FF xơi, vì user mainstream move vào Chrome trước, sau đấy chuyển sang FF theo mức độ advance.

Còn nhu cầu gì lớn chưa tính đến không nhỉ?

Viết nhanh: Hậu duệ của Y360!

Bàn tán trên net về số phận Y360 cũng nhiều. Đọc mạch thảo luận trong LinkHay, câu em đi để lại con đường của Tuấn Linh tự dưng khiến nảy ra hứng viết, nhưng lại viết kiểu nháp, ngắn gọn thôi.

  1. Y360! đang chết – không thể đảo ngược. Dù Yahoo đóng cửa nó hay không thì user cũng dần dần rời bỏ nó sang các dịch vụ khác.
  2. Vấn đề là Y360 ra đi sẽ để lại những gì, users của nó chuyển sang các dịch vụ nào?
  3. Đánh giá vấn đề từ các góc độ nhu cầu của người dùng mà Y360 đang đáp ứng
    • Theo đối tượng
      • Hot blogger: viết bài hot, nhanh chóng được bạn đọc biết, lan truyền,  và comment
      • Proffesional blogger: viết bài, kết nối quy mô nhỏ
      • Giới trẻ: trang trí home page, tâm sự thở than, kết nối bạn bè
      • Casual writer: tâm sự đơn giản, kết nối bạn bè
      • All: blasting, update status
    • Nhu cầu kết nối (relationship centric)
      • Update trang home 360
      • Kết nối thông qua YM và YM notify
      • Blast update
      • Phát triển quan hệ: yếu, không đáng kể
      • Comment
    • Blogging (content)
      • Hot, pro và casual
      • Copy and share
      • Tracking bài viết của bạn (thay cho RSS)
    • Ego centrics
      • Trang trí home page, tạo style
      • Post bài đáp ứng nhu cầu Ego
  4. Tại sao Yahoo rời bỏ Y360?
    • Yahoo là công ty toàn cầu, Y360 không cạnh tranh được ở toàn cầu, duy trì Y360 ở Việt nam là vô nghĩa.
    • Yahoo cố đẩy lùi tiến trình này lại, vợt được bao nhiêu thì vợt –>  đẩy user sang Yahoo plus và Yahoo Profiles.
    • Y360! là một sản phẩm tệ không cạnh tranh nổi với các sản phẩm khác mang tính chuyên biệt hóa.
    • Người dùng Việt nam bị bó trong môi trường Internet của Yahoo nên việc đóng gói all-in-one các chức năng tạo ra hiệu ứng user lock-in cho Yahoo.
    • Ở quốc tế
      • Blogging có WP, blogger hơn hẳn Yahoo
      • Ego/Style centric có MySpace
      • Kết nối có FaceBook
      • Content viral có Twitter, FaceBook
      • Blogging kết hợp home page có LiveSpaces
      • Quick Share kết hợp style có Tumbl
  5. Tại sao người dùng chưa bỏ Y360
    • Không phải vì chưa có tools hay platform mới
    • Mà vì ngại migrate, và chuyển nội dung cũ sang chỗ mới
    • Vì sợ mất kết nối cũ và khả năng lan truyền nội dung.
  6. Y360 tan vỡ, và users của họ sẽ phân tán sang nhiều network khác nhau, như dưới đây
  7. Blogging chuyên nghiệp/Hot bloggers
    • WordPress và WordPress tự host: chủ động, linh hoạt, tùy biến và là best blogging platform
    • Blogger của Google có một chút cơ hội, nhưng theo tôi là không bao nhiêu. Một số local blogging service provider có thể sẽ tiếp nhận được một số như sky.vn và một số khác. Tuy vậy do ko tìm hiểu kỹ nên tôi cũng không rõ tiềm năng của nó tới đâu.
    • Nhóm này lo ngại mất độc giả, nhưng họ sẽ nhanh chóng nhận ra rằng lượng độc giả của họ không phụ thuộc vào Y360 mà phụ thuộc vào nội dung của họ.
    • Các công cụ social media mới: facebook, twitter, linkhay giúp họ thoát khỏi phụ thuộc trên
    • Cách tốt là thoát ngay, thoát nhanh, và làm quen thu thập kinh nghiệm với môi trường mới, phát triển quan hệ trong môi trường media mới.
  8. Home page/trang trí
    • Nhóm user này có 2 lựa chọn Tumblr đang được chú ý, và các social network của Việt nam mà copy lại phong cách Y360.
    • Nhóm coi trọng trang chủ phong cách riêng có thể đổ về Yume, Cyworld, Yobanbe, Ipro
    • Nhóm thích trang trí, kèm theo chia sẻ có thể đổ về Tumblr
    • Còn nhiều network nữa rất mạnh ở quốc tế, nhưng chưa đủ để notice.
  9. Quan hệ, update bạn bè, giao lưu, viết nhanh, thở than, tâm sự 
    • FaceBook sẽ tóm toàn bộ segment này một cách nhanh chóng vì:
    • nó có đủ các chức năng quan trọng: quick blog (notes), blasting, tracking update, chia sẻ ảnh
    • nó được PR mạnh mẽ như một sự thay thế Y360
    • nó đã đạt được critical mass và viral rất nhanh, không ai có thể theo kịp nữa.
    • nhóm user này không có nhu cầu quảng bá nội dung của họ nên không bị phụ thuộc vào quan hệ cũ Y360
  10. Social media, viral content, chia sẻ what is interesting, tracking update
    • YM hiện vẫn là king qua việc gửi link, nhưng trở nên lạc hậu
    • Twitter là người nắm bắt và đẩy khái niệm này lên tầm cao mới; phát triển rất nhanh và tạo ra giá trị rất riêng biệt.
    • LinkHay được design cho update, share và tracking conservation. Nhưng cảm nhận của người dùng về giá trị sẽ rất khó khăn.
    • Ngoài ra không có ai đang cạnh tranh lĩnh vực này.
    • Nhu cầu này ko được phục vụ tốt nhất ở FaceBook, nhưng nó có thể là “just enough” để các đối thủ khác không thể đạt được critical mass.
    • Như vậy, nhu cầu loại này không phải “nhặt user của Y360” mà sẽ là xuất phát từ nhóm users này.
    • FaceBook, Twitter, LinkHay nhắm vào đây. Facebook có lợi thế tốc độ, nhưng 2 dịch vụ kia định vị khác về nhu cầu. Vì vậy tới thời điểm này, kết quả của họ phụ thuộc nhiều vào chính định vị và năng lực phát triển sản phẩm của họ hơn là việc FB đi tới đâu.
    • Sẽ là thiếu sót nếu không nhắc tới các twitter clone ở Việt nam, nhưng ko nhớ tên dịch vụ nào nên không lưu ra ở đây.

Notes:

1. Bài này chỉ nói về hậu duệ của Y360, chứ ko phải nói về Social network và social media nói chung.

2. Sẽ còn sót nhiều dịch vụ chưa được nhắc tới, ở trên là những cái tôi biết và nghĩ rằng có thể có cơ hội. Bạn có thể giới thiệu thêm dịch vụ bạn biết.

10 lực lượng cản trở Google’s domination (phần 2)

A. Sự thống trị của Google

B. Và các lực lượng cản trở

1. Khủng hoảng và sự bộc lộ của chân giá trị: Last click shouldn’t get all the credit.

a. Last click shouldn’t get all the credit

— tiếp theo —

b. Google Anlytics nhân rộng nhầm tưởng

Capture Chủ sở hữu và quản lý website, cũng như các nhà quảng cáo đều quan tâm tới việc độc giả đến với website họ từ đâu? Đến thẳng website, đến từ các link dẫn chiếu, các chiến dịch quảng cáo banner/email, hay từ search engine. Khi nhìn vào bảng tổng kết bên, đa số trong số họ đều nhanh chóng kết luận search mang lại cho tôi 22%, trực tiếp 54%, v.v… mà không đi sâu thêm vào chi tiết.

Web analytics is the measurement, collection, analysis and reporting of internet data for purposes of understanding and optimizing web usage.[1] 

Thị trường phân tích web (web analytics), đã từng phát triển rất mạnh nhiều năm trước để phục vụ nhu cầu đo lường phân tích hành vi của người sử dụng trên trang web: đến từ nguồn nào, sử dụng trang nào nhiều, di chuyển theo luồng nào trên trang web. Thị trường này từng có 5-6 sản phẩm thương mại cạnh tranh, và một vài sản phẩm mã nguồn mở. Các sản phẩm này có mô hình kinh doanh đa dạng khác nhau như: bán phần mềm, bán dịch vụ đo lường qua web, bán phần mềm nâng cao, bán dịch vụ tư vấn.

Tuy vậy, sau đó Google gia nhập cuộc chơi. Họ mua lại Urchin, một trong các sản phẩm web anlytics hàng đầu trên thị trường, dựa trên đó để phát triển Google Analytics (viết tắt là GA), đồng thời cung cấp miễn phí dịch vụ phân tích web cho các nhà làm web mà chỉ cần đăng ký. Google Analytics nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường bởi vì nó là một sản phẩm có giá trị rất cao với chất lượng thật sự về nghiệp vụ, lại hoàn toàn miễn phí, tốc độ và ổn định được đảm bảo bởi datacenter hàng đầu của Google, và trở thành chuẩn mực defacto trong giới làm web.

GA là một công cụ tuyệt vời và được nhiều người tin dùng, một số thậm chí còn sử dụng nó như một công cụ so sánh website. Tuy vậy, trong 1000 người có lẽ không quá 5 người hiểu thấu đáo cách mà GA ghi nhận nguồn dẫn độc giả tới website.

GA ghi nhận nguồn dẫn độc giả tới site thành 4 nhóm chính

  1. Trực tiếp: được nhiểu là các độc giả bấm bookmark, gõ link trực tiếp trên thanh công cụ, click link gửi cho nhau.
  2. Tham chiếu: độc giả bấm các link trên trang web, trong email, v.v..
  3. Others: bao gồm các marketing campaign được đánh dấu, tức là khi độc giả bấm các link được đánh dấu bằng kỹ thuật link tagging.
  4. Organic search: độc giả đến từ search engine

Mục (4) organic search có một vấn đề mà nhiều người đã nhìn thấy. Đó là, ngày càng nhiều người sử dụng Google thay cho book mark, nói các khác khi tôi muốn tới Sàn Nhạc, thay vì gõ SanNhac.com, tôi sẽ gõ “Sàn nhạc” vào box search, hoặc thanh địa chỉ, browser sẽ tự động đưa thẳng về SanNhac.com, hoặc liệt kê danh sách tìm kiếm để bạn click. Ai là người khiến cho bạn muốn tới Sàn nhạc? đó là kết quả của quá trình marketing nhận diện thương hiệu, truyền miệng xảy ra trước đấy. Ai là người được ghi nhận có công tạo ra lượt đến vào bảng tổng kết của Google Analytics? đó là Google. Nói cách khác, GA ghi nhận công lao của Google nhiều hơn thực tế nó có.

Nhưng còn một vấn đề lớn hơn mà rất ít người biết. Đó là cách GA overwrite số liệu lên nhau. Độc giả A tới Sàn nhạc 3 lần theo 3 nguồn khác nhau, vậy nguồn nào sẽ được ghi nhận? Chuyên gia tư vấn GA Justin Cutroni tổng hợp lại như sau trong blog Analytics Talk

  1. Direct traffic luôn bị overwritten bởi 3 nguồn còn lại
  2. Trong 3 nguồn còn lại, nguồn cuối cùng overwite nguồn trước.
  3. Direct traffic không overwrite các nguồn khác

Giải thích bằng ví dụ như sau:

  1. A được người bạn gửi link SanNhac.com qua YM, click vào Sàn nhạc – hệ thống ghi nhận direct; lần thứ 2, A bấm một banner quảng cáo Sàn nhạc – hệ thống overwrite thành A đến từ quảng cáo; lần thứ 3 A nhớ tới Sàn nhạc và gõ trực tiếp URL, hệ thống vẫn ghi nhận A đến từ quảng cáo bởi vì direct. Tóm gọn lại Direct – Banner – Direct được ghi nhận là Banner
  2. Tương tự vậy Direct – Direct – Direct – Google được ghi nhận là Google
  3. Banner – Banner – Banner – Direct – Google được ghi nhận là Google
  4. Google – Google – Google – Direct được ghi nhận là Google
  5. Google – Google – Banner được ghi nhận là banner
  6. Google – Google – Tham chiếu được ghi nhận là tham chiếu

Tuy vậy, nếu bạn chú ý một điểm quan trọng sau: “không có một banner nào chạy mãi mãi”, điều có có nghĩa là sớm hay muộn GA sẽ ghi nhận độc giả A của website bằng một trong 3 nguồn cuối cùng. Nếu bạn nghĩ thêm thật kỹ sẽ nhận thấy rằng “toàn bộ độc giả tích lũy được GA ghi nhận hết cho Google” , bởi vì tình huống duy nhất ghi nhận cho banner/tham chiếu là xảy ra với campaign cuối cùng.

Như vậy thống kê kiểu GA sẽ khiến cho công lao của các campaign quảng cáo bằng thương hiệu, viral, banner khác chỉ được ghi nhận một lần, giá trị tích lũy cần được ghi nhận thành nội lực của site thì lại ghi nhận thành nguồn organic search (hay chính là Google).

Cũng cần nói thêm là khi GA chiếm thị phần tuyệt đối như hiện nay, số lượng người sử dụng GA như một cơ sở đánh giá ngày càng nhiều thì nhầm tưởng này lại càng được nhân rộng, tới mức trở thành một định kiến ngầm về tầm quan trọng của Google và SEO trong việc tạo ra lượt đến site của bạn.

Tôi không buộc tội GA trong việc cố tình làm người dùng hiểu sai, cũng rất đúng khi nói “trách nhiệm của người sử dụng là phải biết cách sử dụng số liệu thống kế một cách đúng đắn”. Nhưng thực tế ở đây là, rất nhiều người trong chúng ta đang hiểu nhầm, và điều quan trọng không phải đổ lỗi cho ai, mà điều quan trọng là làm sao để nhầm tưởng này không còn, hoặc không gây tác hại.

Cách tốt để đánh giá vai trò nguồn của Google là chỉ quan tâm tới lượng độc giả hoặc khách hàng mà Google trực tiếp tạo ra cho bạn. Quan sát thực tế trên một số website cho thấy, chỉ có dưới 30% độc giả tới site từ nguồn SEO là new visitors, 70% còn lại đã từng đến site một vài lần nào đó. Như vậy, với ví dụ trong hình ở trên, vai trò của Google trong việc tạo traffic cho bạn giới hạn lại không quá 6.5%. Mức 6.5% này, vẫn là một con số rất lớn và cho thấy tầm quan trọng của Search engine – chỉ có điều nó không còn quan trọng như tôi từng hiểu nhầm.

— to be continued —

10 lực lượng cản trở Google’s domination

A. Sự thống trị của Google

Mọi người đều nhất trí rằng Google là tốt nhất và mạnh nhất. Một số lượng không nhỏ cho rằng Google sắp hoặc đã đạt được vị trí monopoly trên Internet. Thậm chí, nhiều nhà phân tích, Guru và các bloggers bắt đầu nói về sự thống trị (domination) của Google trên Internet.

Google có mọi thứ (xếp không theo thứ tự quan trọng):

  • Độ phủ sản phẩm quy mô toàn cầu, đặc biệt là search, giúp Google có được thương hiệu mạnh, thị trường quảng cáo và network effect trong việc tăng trưởng và giữ chân số lượng ngưòi sử dụng sản phẩm.
  • Các sản phẩm đại chúng chất lượng hàng đầu: SEARCH, mail, bản đồ, YouTube, … với tốc độ kinh ngạc về chiếm thị phần từ đối thủ.
  • Các sản phẩm đầy tiềm năng: Google reader, iGoogle, Google Finance, Chrome, Googel Apps, Android
  • Một đội ngũ sáng tạo, năng động, một phương pháp phát triển sản phẩm độc đáo giúp Google duy trì đổi mới và vị thế dẫn đầu.
  • Hệ thống monetization với quy mô và hiệu quả vượt trội với AdWords, AdSense và DoubleClick.
  • Datacenter kết nối toàn cầu với tốc độ xử lý, băng thông, lưu trữ và edge-caching tạo ra một hạ tầng công nghệ mà các đối thủ sẽ phải tốn nhiều tiền của, thời gian để san bằng khoảng cách.
  • Công nghệ Cloud Computing bậc nhất, với lợi thế đáng kể về chi phí khi so sánh với đối thủ, đồng thời khi kết hợp với datacenter đã đảm bảo cho người sử dụng các trải nghiệm tốt nhất về chất lượng: tốc độ, ổn định và tính sẵn sàng.

Tuy vậy, vẫn có thể chỉ ra được nhiều lực lượng, với tiềm năng cản trở (cùng nhau, hoặc một mình) quá trình độc chiếm thế giới của Google.

B. Và các lực lượng cản trở

1. Khủng hoảng và sự bộc lộ của chân giá trị: Last click shouldn’t get all the credit.

Một số người lập luận rằng khủng hoảng sẽ khiến cho tất cả cùng khó khăn. Doanh thu Google có thể bị giảm, nhưng đối thủ thiệt hại còn nặng hơn và trong thời kỳ khủng hoảng Google ở vị thế không thể hơn cho việc chiếm thị phần từ tay đối thủ đang khó khăn, tuyển dụng các nhân viên tốt nhất, mua lại các sản phẩm tốt với giá rẻ nhất. Một số report chính thống còn cho rằng Google sẽ là người chiến thắng sau khủng hoảng, vị trí chiến lược của Google sẽ vững chắc hơn nữa sau thời kỳ khủng hoảng.

Các kết luận trên rất hợp lý, nếu bỏ qua Quy luật của Chân giá trị. Khủng hoảng và khó khăn chính là lúc mà các giá trị ảo bị nhận diện và phá hủy, các giá trị thực có đất dụng võ và phát huy.

Với vị thế độc quyền của mình và hyped consensus, những gì Google nhận được cao hơn giá trị đáng có của nó. Tiếp theo đây, chúng ta sẽ đi vào nhận diện các giá trị ảo của Google.

a. Last click shouldn’t get all the credit

Lần đầu tiên vấp phải cụm từ “Last click shouldn’t get all the credit” (xem thêm ở đây), tôi đã thoáng nghĩ “thêm một hành động chê bai đối thủ của Micrsoft”, tuy vậy nó có giá trị tới mức buộc tôi phải nghĩ, nhớ và đọng lại. Tiếp đó, một vài thảo luận của các chuyên gia và các người quảng cáo thực tế đã khiến ý thức của tôi về vấn đề này ngày càng trở nên rõ rệt hơn.

Tại một thảo luận của Search Engine Strategies ở San Jose, Mikel Chertudi – giám đốc marketing trực tuyến cao cấp của Omniture bày tỏ quan điểm

“Search [often] gets credit for everything,”

Chertudi explained that companies typically credit the last source of a sale, which is often paid search. However, a user may see a banner ad, receive an e-mail and then click on a paid search ad before making a purchase, and he stressed that all three of these contributing channels should be measured.

Chertudi added that it’s important not to ignore the other channels in the marketing mix, whether they are offline or online. He also cautioned that, without measuring correctly, marketers are in danger of underspending or overspending in different channels

Nói cách khác, hiệu quả quảng cáo do các kênh và công cụ khác tạo ra, nhưng Google được người ta nhầm tưởng là đã tạo ra toàn bộ giá trị.

Bạn có tìm hiểu sâu hơn bằng cách đọc thêm một số ý kiến tổng hợp trên LiveSide.net ở đây và một bài mới trên New Media Strategy NMS.net ở đây, và bài viết  Why the Click Is the Wrong Metric for Online Ads trên Advertizing Age.

Quan điểm này cũng được khẳng định qua kinh nghiệm cá nhân. Chúng tôi đã từng có một website bị ban khỏi Google index, lý do rất đơn giản Lập trình viên đọc ở đâu đó trên mạng và tạo ra một loạt keyword ẩn trong bài viết – một thủ thuật SEO khi Google phát hiện ra sẽ loại ngay website khỏi index. Cũng phải lưu ý luôn là thời điểm này VCC chưa hề quan tâm tới làm SEO vì quan niệm tập trung toàn lực vào sản phẩm, bỏ qua marketing cho tới khi tin tưởng vào giá trị của sản phẩm. Traffic lập tức sụt giảm 10k visits/ngày, nhưng điều bất ngờ nhất là chỉ sau 2 tuần, traffic đã tăng bù lại toàn bộ lưu lượng bị mất từ Google. Toàn bộ số lưu lượng tăng lên là do độc giả truy cập thẳng vào website. Sau 3 tuần thậm chí lượt truy cập trực tiếp tăng lên thêm 5k visits/ngày nữa.

Tại sao toàn bộ lưu lượng bị mất được bù lại? Tại sao thậm chí truy cập còn được nhiều hơn trước? Giải thích hợp lý nhất có được như sau: độc giả đến với website này một cách chủ động, nhưng vì người ta sử dụng Google như một công cụ để truy cập nên traffic thật sự là của website lại được ghi công cho Google. Khi website bị loại khỏi Google index, độc giả vẫn sẽ phải tìm cách để đến được nó, và họ tìm ra tên miền, hỏi bạn bè, lưu bookmark để vào trực tiếp. Một số độc giả sẽ set home page, đặt bookmark, chia sẻ link với bạn bè (họ không thể chia sẻ Google link) – và toàn bộ hiệu ứng này khiến cho lưu lượng tăng lên so với khi họ sử dụng Google để navigate.

Hiện tượng này còn quan sát thấy trên một loạt các website khác, cũng như các phương tiện marketing khác. Một phát hiện thú vị, nhưng giá trị của nó không dừng lại ở thú vị, nó đã khiến chúng tôi thay đổi nhiều quan điểm về marketing: quan tâm hơn tới branding, tên miền, nhận diện; giảm bớt sự quan tâm tới last click (không chỉ Google); khẳng định thêm niềm tin vào giá trị lõi của sản phẩm; quan tâm hơn tới customer retention so với customer aquisition; v.v…

Suy nghĩ nhanh về FB design mới

    1. Thiết kế các chi tiết thông tin, công nghệ vẫn hoàn hảo
    2. Page/Group vẫn không có mấy giá trị. Cần các killer apps cho chúng.
    3. Dịch chuyển rõ ràng sang content centric, nhưng không mất hẳn relationship (cụ thể nói sau). Photo trong FB đã từng là công cụ ghi nhận friendship moment, bây giờ photo là để chia sẻ ảnh đẹp.
    4. FB tăng trưởng nhanh từ lần dịch chuyển sang content thứ nhất (cách đây vài tháng), và đây có thể là lý do cho độ “máu” khi dịch chuyển tiếp tục về content.
    5. “Học” một số thiết kế của FriendFeed: bộ lọc bên trái, thảo luận quanh feed items, import content của mình từ các nguồn khác.
    6. “Học” một phần từ Twitter: blast và micro conservation. Conservation dễ hơn twitter, nhưng hẹp hơn, ít hơn và đóng hơn.
    7. Là thay đổi lớn về lõi và bản chất và hướng đi, tuy vậy lại không phải là một cú ngoặt quá sốc với users.
    8. Đúng hay sai thì thời gian trả lời, nhưng lần thay đổi này của FB cảm giác phân vân kéo dài, chứ không ủng hộ nhanh chóng như lần trước.
    9. 3 types of relationships: (r1) bạn bè, gia đình hay các mối quan hệ thiên về tình cảm, xã hội đi với ta tới cuối đời, (r2) công việc, chuyên môn hay những mối quan hệ liên quan tới nghề nghiệp, cuộc sống của bạn, (r3) hobby, interest, affinity – Sàn nhạc là một ví dụ.
    10. Facebook đã từng thiên về (r1), (r2) và có xu hướng chuyển dần sang (r3), vẫn social graph cũ, nhưng cách họ tương tác với nhau thay đổi.
    11. New nature of FaceBook:
      • Quan hệ xung quanh các chủ để nội dung.
      • Tuy vậy nó là long tail content, not top hits.
      • Khoe content của tôi (spam) và more vanity. FB thậm chí consider url dạng facebook.com/tanng
      • Chia sẻ mối quan tâm (spam)
      • Và micro conservation (not deep)
      • Very very long tails và dynamics – big prize here?
    12. Facebook có lệch core? Very risky move. Bước đi vội vàng? Hay tới lúc lớp user mới đòi hỏi core mới, experience mới phù hợp hơn?
    13. Thách thức
      • Bản chất publicity, viral và realtime một cách tương đối của Twitter giúp nó cạnh tranh tốt hơn trong quan hệ loại (r3). Tuy vậy FB có lợi thế về social graph, basic apps rất tốt và dễ sử dụng hơn cho mass. Ngoài ra FB nhắm tới phần đuôi thấp hơn phần của Twitters.
      • Quan hệ kiểu (r3) thường hot, bốc nhanh, nhưng cũng xẹp nhanh. How to keep it có giá trị lâu dài như quan hệ tình cảm.
      • Giải quyết mâu thuẫn privacy và publicity
      • Lọc bỏ junk, spam content trên feed. Less overload.
    14. Câu hỏi mở: có dấu hiệu cho thấy FB đang ngắm vào bản chất publicity và quan hệ “theo đuôi” kiểu Twitter. Chờ và xem họ sẽ làm thế nào.
    15. Và còn một loạt câu hỏi mở nữa, nhưng too complicated to think chứ đừng nói tới viết chúng ra.
    16. Thở dài: quá khó để viết hết ra một cách rõ ràng, đầy đủ và hấp dẫn.