Cuộc chiến Rupert Murdoch vs Google: ai thiệt hơn?

Murdoch muốn gì ở Google?

 

  • Muốn Google chia sẻ doanh thu quảng cáo với các phép tìm kiếm có chứa link về News corps. Google không muốn việc này bởi vì việc này tạo ra tiền lệ khiến các nhà xuất bản lớn nhỏ khác cũng đưa ra đòi hỏi tương tự. Từ đó doanh thu Google sẽ sụt giảm vì bị chia sẻ doanh thu, một tác hại lớn không kém đó là Google phải thương thảo với quá nhiều đối tác khi muốn mở rộng index.
  • Muốn Google đặt rank cao hơn cho các bài viết của News Corps trong kết quả search. Google nói rằng họ không muốn điều này, bởi vì như vậy tính khách quan trong ranking bị mất đi, và người dùng sẽ có cảm giác "nghi ngờ" rằng họ không có được kết quả tìm kiếm tốt nhất trên Google. Tuy vậy, thực tế là khi tìm kiếm tin tức, Google đang trả về kết quả của Google News ở vị trí cao.

Ai đứng về phía Murdoch? Ai đứng về phía Google?

 

  • Reuters đang có các động thái tương tự, và đang làm việc chặt chẽ với Bing của Microsoft để tạo ra các sản phẩm kết hợp. Steve Balmer cũng từng nói bóng gió tới việc sẽ chấp nhận chia sẻ doanh thu với các nhà sản xuất nội dung.
  • MSNBC, Fox, TimeWaner trước tiên sẽ ngồi im và quan sát, nhưng nhiều khả năng họ sẽ nhanh chóng nghiêng về phía Murdoch nếu ông ta dám làm.
  • Yahoo Portal, MSN, AOL – đều đã quen với việc chia sẻ doanh thu với các bên nội dung, và sẽ muốn tranh thủ dịp này để gây thiệt hại cho kẻ thù chung là Google
  • Bing của Microsoft – đây là cơ hội rất tốt để tạo sự khác biệt về sản phẩm. Bạn sẽ có một máy tìm kiếm tìm ra những thứ nổi tiếng mà Google không thể tìm ra
  • Twitter, FaceBook, Digg, LinkHay – là các nguồn tạo traffic ngày càng chiếm tỷ trọng lớn đối với các site tin tức. Độc giả đến từ các nguồn này giá trị cao đối với site tin tức vì tính nhanh chóng, sự phù hợp về tiếp thu thụ động, cũng như tính phù hợp về nội dung.
  • Ủng hộ Google là các publisher nhỏ, các blogger, các site ngách không có được địa vị thương hiệu lớn và cần Google để phát triển khách hàng mới, cũng như làm danh bạ truy cập cho khách hàng cũ, họ cũng được lợi (ít ra là trước mắt) khi các site lớn rút khỏi Google index.
  • Các nhà đấu tranh tư tưởng: bảo vệ người tiêu dùng, cạnh tranh tự do, nội dung mở, v.v.v. sẽ đứng về phía Google vì triết lý tự do của họ.
  • Các dịch vụ có tính chất tương tự ngần ngại tới lượt họ phải nộp tiền sẽ lên tiếng hoặc có cách hành động ngầm hỗ trợ Google

Thiệt hại nào cho Google?

Một số nhà bình luận cho rằng Google không thiệt hại gì, nhưng thực tế thiệt hại có thể sẽ rất lớn

  • Người tìm kiếm biết chắc trên Google sẽ không có các nội dung chất lượng cao, đẳng cấp hàng đầu của WSJ và News Corp, vì vậy mỗi lần thực hiện phép search trên Google người ta sẽ có cảm giác không tin tưởng có đầy đủ kết quả tốt nhất, từ đó sẽ thử lần thứ 2 trên Bing để đảm bảo chắc chắn. Việc này sẽ tác động lớn vào tâm lý và nhận thức người dùng, tạo điều kiện cho các đối thủ của Google vượt lên trong cạnh tranh, đe dọa địa vị dẫn đầu của Google.
  • Các website sẽ nhanh chóng tìm tới các nguồn tạo traffic thay thế như Twitter, FaceBook, LinkHay. Ảo tưởng bị thổi phồng về giá trị traffic của Google buộc phải đối mặt với thực tế mới. Đột nhiên các chủ website tin tức sẽ nhận ra rằng traffic mà Google mang lại không giá trị cao như trước đây họ vẫn nghĩ, thậm chí họ có thể chuyển sang thái cực đánh giá thấp traffic tạo ra bởi Google so với giá trị thực của nó.
  • Khi tin tức thành công thì sẽ tạo ra cả một trào lưu tương tự với nhạc, video, thương mại điện tử; cũng như hàng loạt các site tìm kiếm vertical khác được phát triển để thay thế Google.

Thiệt hại nào cho News Corps của Murdoch?

  • Theo một đánh giá sơ bộ 25% traffic tới WSJ là đến từ Google. Tuy vậy, như một phân tích từ khá lâu tôi từng chỉ ra, trong số 25% này, có tới 15% traffic vốn là của chính WSJ, chỉ là độc giả "mượn đường" đi qua Google. Có Google hay không, người ta vẫn tới thẳng websites. Có thể tạm ước lượng là WSJ sẽ mất khoảng 5% traffic vì cấm Google. Thiệt hại cho WSJ là thiệt hại về phát triển độc giả.
  • Doanh thu của WSJ có mất tới 5%? Thực tế không phải vậy, vì đa số lượt xem đến từ Google là vào thẳng bài viết, đây lại là các trang có năng lực tạo tiền kém nhất. Nếu bạn biết rằng tới 50% doanh thu đến từ trang chủ thì bạn sẽ hiểu rằng doanh thu quảng cáo cáo của WSJ sụt không quá 2.5%, một con số hoàn toàn chấp nhận được.
  • Cũng phải lưu ý rằng, lượt xem trang của một website phụ thuộc chính vào bản thân nó hơn là Google. FaceBook đâu cần Google, nhưng họ vẫn phát triển với siêu tốc độ. Các trang dạng tin tức lượt xem phụ thuộc nhiều vào chất lượng nội dung là chính. Vì vậy, ở địa vị một trang tin tức hàng đầu, trong ngắn hạn WSJ và News Corp chịu thiệt hại không đáng kể nếu xảy ra chiến tranh với Google.
  • Trong dài hạn thì vấn đề có thể khác hơn.
    • Thứ nhất, WSJ sẽ bị giảm lợi thế cạnh tranh với các site đối thủ như Bloomberg, BW, các blog tài chính, hay NYT về mặt phân phối nội dung, tạo ra khoảng trống "an toàn" cho các đối thủ tung hoành
    • Thứ hai. Google là cửa ngõ tới nội dung toàn cầu, cho phép các site nội dung tiếp cận tới các lớp độc giả mới hòa nhập vào Internet trên toàn cầu, hoặc lớp độc giả mới mới hòa nhập vào tri thức kinh tế Mỹ. Đối kháng với Google chính là tự cắt đi kênh tiếp cận độc giả mới quan trọng này, lớp khách hàng chiến lược 20 năm tới của WSJ.

Tại sao Murdoch muốn chiến tranh khi cả hai cùng thiệt?

Nhiều bloggers hay nhà báo nhẹ dạ vội vàng nhận định rằng Murdoch là người không có tầm nhìn và hành động của ông ta là ngu ngốc. Tuy vậy, họ dường như quên 2 điều: (1) Rupert Murdoch đủ giàu, đủ tỉnh táo và đủ người tư vấn để có những quyết định rất sâu sắc; (2) Murdoch nghĩ từ góc độ media đa dạng hơn, gồm cả truyền hình, báo giấy và online chứ không chỉ internet.

  • Quảng cáo không phải là mô hình doanh thu đủ sustainable cho một đế chế xuất bản nội dung. Ngay cả khi WSJ online có doanh thu quảng cáo gấp rưỡi hiện tại, nó cũng không đủ để duy trì bộ máy sản xuất nội dung hiện tại của WSJ. Sự thật là doanh thu quảng cáo của Google tuy lớn, nhưng nó chỉ đủ làm giầu cho Google chư không đủ để nuôi cả thế giới media.
  • Quảng cáo không phải là mô hình doanh thu hiệu quả, phù hợp với các nội dung chất lượng cao. Các nội dung chất lượng cao thường không có nhiều người đọc như các nội dung đại chúng tầm thường. Chi phí sản xuất các nội dung này lại rất lớn, trong khi đó mô hình quảng cáo trả tiền thông qua lượt xem, không đủ khả năng phân biệt lượt xem của ăn mày và tiến sỹ.
  • Murdoch không còn lựa chọn nào ngoài việc tìm kiếm một mô hình doanh thu mới, chứ không thể làm theo Google và mô hình quảng cáo của họ. Bác bỏ Google nghĩa là chấp nhận mất đi 5% doanh thu của mô hình quảng cáo, để đặt cược vào việc tìm ra một mô hình mới giúp duy trì đế chế xuất bản của ông ta.
  • Mô hình mới sẽ là gì? Còn phải thực hiện được mới biết, nhưng một cách trực diện nhất là bán nội dung. Nội dung đem bán thì không thể miễn phí, và việc đối đầu với Google giúp Murdoch đạt nhiều mục tiêu: (1) chuẩn bị tâm lý cho khách hàng, (2) gây chấn động và sự quan tâm rộng hơn với thu phí, (3) gây sức ép vào Google để đạt được các lợi ích kinh tế

Nếu Murdoch thật sự đối đầu với Google thì những ai sẽ chịu tác động? 

 

  • Cơ hội cho Bing trong việc hợp tác với giới media, để tạo ra sự khác biệt về sản phẩm và vượt lên trên Google. Google không thể trả tiền cho giới media vì thiệt hại quá lớn, Bing có thể trả đủ để làm đau Google mà thiệt hại không lớn.
  • Cơ hội cho social media – vai trò phân phối nội dung, tạo lượt đọc của Social media sẽ được nhấn mạnh, và đây sẽ là cơ hội của họ trong hệ sinh thái mới.
  • Cơ hội mới cho cả ngành media và ngành công nghệ trong việc tìm kiếm một mô hình doanh thu mới, bao gồm (mà không giới hạn trong) quảng cáo.
  • Cơ hội cho chính Google nếu họ có thể rời bỏ được tư tưởng quảng cáo là mọi thứ.

Các mô hình doanh thu nào có thể phù hợp? 

 

  • Bán đăng ký hàng tháng (kiểu WSJ)
  • Bán từng bài viết (kiểu Kindle, iTune)
  • Thu tiền thông qua thiết bị (kiểu iPhone, iPod)
  • Thu tiền thông qua đối tác (kiểu iPhone, truyền hình cáp)
  • Thu tiền thông qua dịch vụ (kiểu bloomberg)
  • Thu tiền thông qua các sản phẩm hữu hình, các ấn phẩm
  • Quảng cáo
  • Chắc còn nhiều nữa …
Advertisements

10 lực lượng cản trở Google’s domination (phần 2)

A. Sự thống trị của Google

B. Và các lực lượng cản trở

1. Khủng hoảng và sự bộc lộ của chân giá trị: Last click shouldn’t get all the credit.

a. Last click shouldn’t get all the credit

— tiếp theo —

b. Google Anlytics nhân rộng nhầm tưởng

Capture Chủ sở hữu và quản lý website, cũng như các nhà quảng cáo đều quan tâm tới việc độc giả đến với website họ từ đâu? Đến thẳng website, đến từ các link dẫn chiếu, các chiến dịch quảng cáo banner/email, hay từ search engine. Khi nhìn vào bảng tổng kết bên, đa số trong số họ đều nhanh chóng kết luận search mang lại cho tôi 22%, trực tiếp 54%, v.v… mà không đi sâu thêm vào chi tiết.

Web analytics is the measurement, collection, analysis and reporting of internet data for purposes of understanding and optimizing web usage.[1] 

Thị trường phân tích web (web analytics), đã từng phát triển rất mạnh nhiều năm trước để phục vụ nhu cầu đo lường phân tích hành vi của người sử dụng trên trang web: đến từ nguồn nào, sử dụng trang nào nhiều, di chuyển theo luồng nào trên trang web. Thị trường này từng có 5-6 sản phẩm thương mại cạnh tranh, và một vài sản phẩm mã nguồn mở. Các sản phẩm này có mô hình kinh doanh đa dạng khác nhau như: bán phần mềm, bán dịch vụ đo lường qua web, bán phần mềm nâng cao, bán dịch vụ tư vấn.

Tuy vậy, sau đó Google gia nhập cuộc chơi. Họ mua lại Urchin, một trong các sản phẩm web anlytics hàng đầu trên thị trường, dựa trên đó để phát triển Google Analytics (viết tắt là GA), đồng thời cung cấp miễn phí dịch vụ phân tích web cho các nhà làm web mà chỉ cần đăng ký. Google Analytics nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường bởi vì nó là một sản phẩm có giá trị rất cao với chất lượng thật sự về nghiệp vụ, lại hoàn toàn miễn phí, tốc độ và ổn định được đảm bảo bởi datacenter hàng đầu của Google, và trở thành chuẩn mực defacto trong giới làm web.

GA là một công cụ tuyệt vời và được nhiều người tin dùng, một số thậm chí còn sử dụng nó như một công cụ so sánh website. Tuy vậy, trong 1000 người có lẽ không quá 5 người hiểu thấu đáo cách mà GA ghi nhận nguồn dẫn độc giả tới website.

GA ghi nhận nguồn dẫn độc giả tới site thành 4 nhóm chính

  1. Trực tiếp: được nhiểu là các độc giả bấm bookmark, gõ link trực tiếp trên thanh công cụ, click link gửi cho nhau.
  2. Tham chiếu: độc giả bấm các link trên trang web, trong email, v.v..
  3. Others: bao gồm các marketing campaign được đánh dấu, tức là khi độc giả bấm các link được đánh dấu bằng kỹ thuật link tagging.
  4. Organic search: độc giả đến từ search engine

Mục (4) organic search có một vấn đề mà nhiều người đã nhìn thấy. Đó là, ngày càng nhiều người sử dụng Google thay cho book mark, nói các khác khi tôi muốn tới Sàn Nhạc, thay vì gõ SanNhac.com, tôi sẽ gõ “Sàn nhạc” vào box search, hoặc thanh địa chỉ, browser sẽ tự động đưa thẳng về SanNhac.com, hoặc liệt kê danh sách tìm kiếm để bạn click. Ai là người khiến cho bạn muốn tới Sàn nhạc? đó là kết quả của quá trình marketing nhận diện thương hiệu, truyền miệng xảy ra trước đấy. Ai là người được ghi nhận có công tạo ra lượt đến vào bảng tổng kết của Google Analytics? đó là Google. Nói cách khác, GA ghi nhận công lao của Google nhiều hơn thực tế nó có.

Nhưng còn một vấn đề lớn hơn mà rất ít người biết. Đó là cách GA overwrite số liệu lên nhau. Độc giả A tới Sàn nhạc 3 lần theo 3 nguồn khác nhau, vậy nguồn nào sẽ được ghi nhận? Chuyên gia tư vấn GA Justin Cutroni tổng hợp lại như sau trong blog Analytics Talk

  1. Direct traffic luôn bị overwritten bởi 3 nguồn còn lại
  2. Trong 3 nguồn còn lại, nguồn cuối cùng overwite nguồn trước.
  3. Direct traffic không overwrite các nguồn khác

Giải thích bằng ví dụ như sau:

  1. A được người bạn gửi link SanNhac.com qua YM, click vào Sàn nhạc – hệ thống ghi nhận direct; lần thứ 2, A bấm một banner quảng cáo Sàn nhạc – hệ thống overwrite thành A đến từ quảng cáo; lần thứ 3 A nhớ tới Sàn nhạc và gõ trực tiếp URL, hệ thống vẫn ghi nhận A đến từ quảng cáo bởi vì direct. Tóm gọn lại Direct – Banner – Direct được ghi nhận là Banner
  2. Tương tự vậy Direct – Direct – Direct – Google được ghi nhận là Google
  3. Banner – Banner – Banner – Direct – Google được ghi nhận là Google
  4. Google – Google – Google – Direct được ghi nhận là Google
  5. Google – Google – Banner được ghi nhận là banner
  6. Google – Google – Tham chiếu được ghi nhận là tham chiếu

Tuy vậy, nếu bạn chú ý một điểm quan trọng sau: “không có một banner nào chạy mãi mãi”, điều có có nghĩa là sớm hay muộn GA sẽ ghi nhận độc giả A của website bằng một trong 3 nguồn cuối cùng. Nếu bạn nghĩ thêm thật kỹ sẽ nhận thấy rằng “toàn bộ độc giả tích lũy được GA ghi nhận hết cho Google” , bởi vì tình huống duy nhất ghi nhận cho banner/tham chiếu là xảy ra với campaign cuối cùng.

Như vậy thống kê kiểu GA sẽ khiến cho công lao của các campaign quảng cáo bằng thương hiệu, viral, banner khác chỉ được ghi nhận một lần, giá trị tích lũy cần được ghi nhận thành nội lực của site thì lại ghi nhận thành nguồn organic search (hay chính là Google).

Cũng cần nói thêm là khi GA chiếm thị phần tuyệt đối như hiện nay, số lượng người sử dụng GA như một cơ sở đánh giá ngày càng nhiều thì nhầm tưởng này lại càng được nhân rộng, tới mức trở thành một định kiến ngầm về tầm quan trọng của Google và SEO trong việc tạo ra lượt đến site của bạn.

Tôi không buộc tội GA trong việc cố tình làm người dùng hiểu sai, cũng rất đúng khi nói “trách nhiệm của người sử dụng là phải biết cách sử dụng số liệu thống kế một cách đúng đắn”. Nhưng thực tế ở đây là, rất nhiều người trong chúng ta đang hiểu nhầm, và điều quan trọng không phải đổ lỗi cho ai, mà điều quan trọng là làm sao để nhầm tưởng này không còn, hoặc không gây tác hại.

Cách tốt để đánh giá vai trò nguồn của Google là chỉ quan tâm tới lượng độc giả hoặc khách hàng mà Google trực tiếp tạo ra cho bạn. Quan sát thực tế trên một số website cho thấy, chỉ có dưới 30% độc giả tới site từ nguồn SEO là new visitors, 70% còn lại đã từng đến site một vài lần nào đó. Như vậy, với ví dụ trong hình ở trên, vai trò của Google trong việc tạo traffic cho bạn giới hạn lại không quá 6.5%. Mức 6.5% này, vẫn là một con số rất lớn và cho thấy tầm quan trọng của Search engine – chỉ có điều nó không còn quan trọng như tôi từng hiểu nhầm.

— to be continued —

10 lực lượng cản trở Google’s domination

A. Sự thống trị của Google

Mọi người đều nhất trí rằng Google là tốt nhất và mạnh nhất. Một số lượng không nhỏ cho rằng Google sắp hoặc đã đạt được vị trí monopoly trên Internet. Thậm chí, nhiều nhà phân tích, Guru và các bloggers bắt đầu nói về sự thống trị (domination) của Google trên Internet.

Google có mọi thứ (xếp không theo thứ tự quan trọng):

  • Độ phủ sản phẩm quy mô toàn cầu, đặc biệt là search, giúp Google có được thương hiệu mạnh, thị trường quảng cáo và network effect trong việc tăng trưởng và giữ chân số lượng ngưòi sử dụng sản phẩm.
  • Các sản phẩm đại chúng chất lượng hàng đầu: SEARCH, mail, bản đồ, YouTube, … với tốc độ kinh ngạc về chiếm thị phần từ đối thủ.
  • Các sản phẩm đầy tiềm năng: Google reader, iGoogle, Google Finance, Chrome, Googel Apps, Android
  • Một đội ngũ sáng tạo, năng động, một phương pháp phát triển sản phẩm độc đáo giúp Google duy trì đổi mới và vị thế dẫn đầu.
  • Hệ thống monetization với quy mô và hiệu quả vượt trội với AdWords, AdSense và DoubleClick.
  • Datacenter kết nối toàn cầu với tốc độ xử lý, băng thông, lưu trữ và edge-caching tạo ra một hạ tầng công nghệ mà các đối thủ sẽ phải tốn nhiều tiền của, thời gian để san bằng khoảng cách.
  • Công nghệ Cloud Computing bậc nhất, với lợi thế đáng kể về chi phí khi so sánh với đối thủ, đồng thời khi kết hợp với datacenter đã đảm bảo cho người sử dụng các trải nghiệm tốt nhất về chất lượng: tốc độ, ổn định và tính sẵn sàng.

Tuy vậy, vẫn có thể chỉ ra được nhiều lực lượng, với tiềm năng cản trở (cùng nhau, hoặc một mình) quá trình độc chiếm thế giới của Google.

B. Và các lực lượng cản trở

1. Khủng hoảng và sự bộc lộ của chân giá trị: Last click shouldn’t get all the credit.

Một số người lập luận rằng khủng hoảng sẽ khiến cho tất cả cùng khó khăn. Doanh thu Google có thể bị giảm, nhưng đối thủ thiệt hại còn nặng hơn và trong thời kỳ khủng hoảng Google ở vị thế không thể hơn cho việc chiếm thị phần từ tay đối thủ đang khó khăn, tuyển dụng các nhân viên tốt nhất, mua lại các sản phẩm tốt với giá rẻ nhất. Một số report chính thống còn cho rằng Google sẽ là người chiến thắng sau khủng hoảng, vị trí chiến lược của Google sẽ vững chắc hơn nữa sau thời kỳ khủng hoảng.

Các kết luận trên rất hợp lý, nếu bỏ qua Quy luật của Chân giá trị. Khủng hoảng và khó khăn chính là lúc mà các giá trị ảo bị nhận diện và phá hủy, các giá trị thực có đất dụng võ và phát huy.

Với vị thế độc quyền của mình và hyped consensus, những gì Google nhận được cao hơn giá trị đáng có của nó. Tiếp theo đây, chúng ta sẽ đi vào nhận diện các giá trị ảo của Google.

a. Last click shouldn’t get all the credit

Lần đầu tiên vấp phải cụm từ “Last click shouldn’t get all the credit” (xem thêm ở đây), tôi đã thoáng nghĩ “thêm một hành động chê bai đối thủ của Micrsoft”, tuy vậy nó có giá trị tới mức buộc tôi phải nghĩ, nhớ và đọng lại. Tiếp đó, một vài thảo luận của các chuyên gia và các người quảng cáo thực tế đã khiến ý thức của tôi về vấn đề này ngày càng trở nên rõ rệt hơn.

Tại một thảo luận của Search Engine Strategies ở San Jose, Mikel Chertudi – giám đốc marketing trực tuyến cao cấp của Omniture bày tỏ quan điểm

“Search [often] gets credit for everything,”

Chertudi explained that companies typically credit the last source of a sale, which is often paid search. However, a user may see a banner ad, receive an e-mail and then click on a paid search ad before making a purchase, and he stressed that all three of these contributing channels should be measured.

Chertudi added that it’s important not to ignore the other channels in the marketing mix, whether they are offline or online. He also cautioned that, without measuring correctly, marketers are in danger of underspending or overspending in different channels

Nói cách khác, hiệu quả quảng cáo do các kênh và công cụ khác tạo ra, nhưng Google được người ta nhầm tưởng là đã tạo ra toàn bộ giá trị.

Bạn có tìm hiểu sâu hơn bằng cách đọc thêm một số ý kiến tổng hợp trên LiveSide.net ở đây và một bài mới trên New Media Strategy NMS.net ở đây, và bài viết  Why the Click Is the Wrong Metric for Online Ads trên Advertizing Age.

Quan điểm này cũng được khẳng định qua kinh nghiệm cá nhân. Chúng tôi đã từng có một website bị ban khỏi Google index, lý do rất đơn giản Lập trình viên đọc ở đâu đó trên mạng và tạo ra một loạt keyword ẩn trong bài viết – một thủ thuật SEO khi Google phát hiện ra sẽ loại ngay website khỏi index. Cũng phải lưu ý luôn là thời điểm này VCC chưa hề quan tâm tới làm SEO vì quan niệm tập trung toàn lực vào sản phẩm, bỏ qua marketing cho tới khi tin tưởng vào giá trị của sản phẩm. Traffic lập tức sụt giảm 10k visits/ngày, nhưng điều bất ngờ nhất là chỉ sau 2 tuần, traffic đã tăng bù lại toàn bộ lưu lượng bị mất từ Google. Toàn bộ số lưu lượng tăng lên là do độc giả truy cập thẳng vào website. Sau 3 tuần thậm chí lượt truy cập trực tiếp tăng lên thêm 5k visits/ngày nữa.

Tại sao toàn bộ lưu lượng bị mất được bù lại? Tại sao thậm chí truy cập còn được nhiều hơn trước? Giải thích hợp lý nhất có được như sau: độc giả đến với website này một cách chủ động, nhưng vì người ta sử dụng Google như một công cụ để truy cập nên traffic thật sự là của website lại được ghi công cho Google. Khi website bị loại khỏi Google index, độc giả vẫn sẽ phải tìm cách để đến được nó, và họ tìm ra tên miền, hỏi bạn bè, lưu bookmark để vào trực tiếp. Một số độc giả sẽ set home page, đặt bookmark, chia sẻ link với bạn bè (họ không thể chia sẻ Google link) – và toàn bộ hiệu ứng này khiến cho lưu lượng tăng lên so với khi họ sử dụng Google để navigate.

Hiện tượng này còn quan sát thấy trên một loạt các website khác, cũng như các phương tiện marketing khác. Một phát hiện thú vị, nhưng giá trị của nó không dừng lại ở thú vị, nó đã khiến chúng tôi thay đổi nhiều quan điểm về marketing: quan tâm hơn tới branding, tên miền, nhận diện; giảm bớt sự quan tâm tới last click (không chỉ Google); khẳng định thêm niềm tin vào giá trị lõi của sản phẩm; quan tâm hơn tới customer retention so với customer aquisition; v.v…

Cyvee Review và vài vấn đề về phát triển mạng xã hội

Dặn trước

* Tiện hôm đọc một dãy bình luận của các “phân tích gia về MXH”, ngứa tay viết một bài

*  Bài này viết theo kiểu nhảm nhít, bác nào đọc phải mấy điều khó chịu mà sinh khó ở trong mình thì chạy ra kiếm cốc nước uống cho đỡ tức, rồi vào đây đọc tiếp.

Cyvee Review

Có vài thứ ảnh hưởng tới hướng đi của MXH, cộng đồng hay cái khỉ mẹ gì đó

1. Chức năng, công cụ, sản phẩm

Không có profile khai CV thì khó mà tạo nên MXH nghề nghiệp, không có blog thì dựng vào mắt MXH các nhà văn. Hoặc ném vào mặt một MXH nghề nghiệp các công cụ share ảnh nude, mp3 thì được ba hôm cái lõi của mạng nghề nghiệp sẽ tan vỡ. Và team CyVee đã khá thành công trong việc làm vỡ tan lõi quan hệ nghề nghiệp, bằng cách đưa vào chức năng thảo luận nội dung theo mô hình kiểu Digg.

Chức năng có mấy kiểu

* Generic communication tools: PM, lưu bút, email, v.v…

* Các apps chuyên sâu được thiết kế chuyên biệt cho mạng nghề nghiệp. Ví dụ hỏi đáp, tư vấn, hay những thứ lởm lít gì đấy mà bạn MXH 2.0 đề xuất. Một ví dụ điển hình là cái nút vote ảnh của trang iPro, làm nút vote thì ai cũng làm được, nhưng thiết kế đủ đẹp, chọn chỗ cho nó nằm thật hợp lý thì mỗi nút vote sẽ khiến gái post ảnh tưởng như nghe được câu "anh yêu em", nhờ vào đó điên cuồng post ảnh. Chất lượng các apps này sẽ ảnh hưởng sâu sắc tới phát triển, và hướng đi của sites.

* Các apps chung, được triển khai theo cốt lõi của mạng. Ví dụ: chức năng hỏi đáp của Yahoo Hỏi đáp được chia category rất phù hợp; hoặc các box của Diễn đàn tin học, được chia phù hợp với bản chất định hướng của diễn đàn.

* Và một số kiểu dở hơi nữa ngại nói vì dài …

2. Early Adopters, Core Users, Innitial contents

 

Như mấy bạn ở trên đã lưu ý, cùng một hệ thống chức năng forum thì có hàng chục diễn đàn phát triển theo hàng chục kiểu. Lý do chính tạo nên sự khác biệt chính là nhóm user ban đầu, nhóm user cốt lõi, hoặc cách tổ chức nội dung ban đầu. Kéo theo việc lựa chọn nhóm users ban đầu để xuất phát điểm sẽ trở nên quan trọng nhất.

Cyvee vấp ngay sai lầm này từ bước một khi mở rộng một cách vội vã user ngay từ đầu thông qua việc PR rầm rộ, kết hợp với mail invitation – khéo theo hệ thống mạng lưới quan hệ phát triển theo một cách hoàn toàn "không nghề nghiệp".

Thuốc chữa tất nhiên lúc nào cũng có, nhưng mục đích của tớ ở đây chỉ là show hàng, chứ không phải tư vấn miễn phí. Vì thế mấy bạn CyVee ráng làm, ráng chịu.

3. Admin

 

Một MXH không cần admin vẫn có thể thành công rực rỡ, và cách tốt nhất là nó không nên có admin (admin giỏi thì nên bỏ thời gian đi code, đi vẽ sản phẩm, đi bán quảng cáo, còn hơn là đi cãi cọ với mấy user dở người dở ngợm).

Thế nhưng nếu admin ngon, bổ và rẻ thì còn gì bằng? Admin có nhiều công cụ để can thiệp, tác động, điều hướng hệ thống:

* Xây dựng và thi hành luật lệ. Thằng nào nói quá 15 câu trên Diễn đàn trong 1 ngày là tao chém đầu bêu cọc. Tự dưng DDTH sẽ toàn thằng câm. Vào Sàn nhạc hát xong là phải nở nụ cười, nghe xong là phải nịnh nọt thằng hát – tự dưng vào đấy lần nào cũng gặp 50% số nụ cười là giả dối.

* Phát triển văn hóa. Thông qua các khẩu hiệu, tầm nhìn, hành vi hướng dẫn. Ví dụ Tathy khẩu hiệu là hào hoa, trí tuệ, dâm đãng và bỉ – kết quả là sinh ra một lũ bác học, nghệ sỹ suốt ngày rỉa rói nhau, lúc nào chán thì quay ra rỉa rói xã hội – theo một cách rất vui, hài hước và khốc liệt. Hoặc vào Cyvee là phải đi nhẹ, nói khẽ, cổ đeo cà vạt, tay cầm quyển sách thương hiệu, định vị, marketing và thiết kế giao diện. Kết cục không tránh khỏi sẽ là cứ vào CV là thấy anh nào cũng giống bạn giai đầu hói ixx tới tám chín phần.

* Featured, Highligted contents. Admin hoặc mod có thể đẩy lên trang chủ các nội dung theo chủ đề nhất định để điều hướng phát triển của MXH, hoặc cộng đồng. Ví dụ đơn giản như một site ảnh ọt nọ, vào vài lần lần nào cũng thấy post ảnh gái cởi truồng, hở ngực, mông nở – với sự tự nhiên đấy sau một thời gian cave sẽ vào post ảnh làm hàng, công nhân vào thủ dâm miễn phí. Và kết cục cuối cùng site đấy sẽ biến thành một P-o-r-n-o City. Điển hình quốc tế chính là hai site YouTube và Portube, chức năng đâu khác nhau mấy, cơ bản là thằng admin muốn nó biến thành cái gì.

Đọc mấy trang các bạn cãi nhau, bạn bảo 1, bạn bảo 2 bạn bảo 3 mới là đúng, tóm lại bạn nào cũng bảo chỉ có tôi mới là đúng. Thực ra các bạn đều đúng tất, tức là cả 1,2,3 đều đúng, không chừng còn 4,5,6,7,8,9,10 cũng đúng cả.

Có điều, rốt cuộc thì nên làm theo cách nào? Câu trả lời đơn giản: có súng dùng súng, có gươm dùng gươm. Công ty có anh hói uxx thì nên đẩy sản phẩm bằng nội dung, thương hiệu, có anh MXH 2.0 thì nên phát triển MXH những kẻ thất bại, có anh U23_VN thì nên chọn cái mạng nào mà càng chửi nhau nhiều càng tốt. Còn công ty tuyển bạn Dát gud thì nên trọng tâm vào chức năng sản phẩm. Trường hợp công ty có cả 4 anh trên thì nên đuổi bớt 3 anh, giữ lại một anh hợp với sếp nhất. Vì nếu để lại cả 4 anh thì riêng việc ngồi nghe mấy anh tranh luận, xong phân xử xem anh nào đúng, anh nào sai anh nào đúng cũng đủ hết ngày. Tốt nhất là giữ thằng nào hợp với mình nó giải thích cái gì mới mình cũng cảm thấy mình đỡ ngu. Trường hợp cực đoan nhất chẳng may giám đốc dí cho bạn anh HuyCanvn, thì cách tốt nhất là bạn nên sa thải anh giám đốc. Làm tớ thằng khôn hơn làm thầy thằng dại, đây lại có một thằng vừa dại vừa ngu vừa thích làm sếp mình, giám đốc mà trình độ thấp thế chả tự xin thôi việc đi còn ở đấy làm gì.

Tất nhiên, phần trên là quy tắc chung, còn tớ hành động theo quy tắc riêng. Đơn giản như vầy: gọi 4 anh vào bảo chúng mày làm hòa được với nhau đi, chờ xem 4 anh không hòa được với nhau không, nếu không thì tớ chọn anh làm sản phẩm. Vì một lý do đơn giản, thằng làm sản phẩm là thằng rẻ nhất, sử dụng được lâu nhất, và tính tích lũy cao nhất – đặc biệt là lúc mình không có tiền trả lương có khi nó bán cả nhà nó đi để làm tiếp sản phẩm nó yêu. So so, Dear Dát gud! Your are choosen.

Yahoo tiếp tục đánh mất các keyperson quan trọng nhất

1 tuần sau khi Yahoo chính thức ký với Google một hợp đồng đầu hàng, hàng loạt nhân sự cao cấp đã rời bỏ Yahoo

A. Các vị trí quản lý và công nghệ chủ chốt

 

1. Jeff Weiner

Jeff Weiner là the Executive Vice President of Yahoo!’s Network Division. Weiner quản lý một loạt các sản phẩm quan trọng của Yahoo, bao gồm Yahoo.com, My Yahoo!, Yahoo! Mail, Yahoo! Messenger, Yahoo! Groups, Flickr, Yahoo! Web Search, Yahoo! Answers, Yahoo! Shopping and Yahoo! Local, Yahoo! Finance, Yahoo! News, Yahoo! Sports and Yahoo! Entertainment. Trong giai đoạn 2002 tới 2006, Weiner giữ vai trò Phó chủ tịch cao cấp lĩnh vực tìm kiếm và thị trường.

 

Vish Makhijani

Vish Makhijani, the SVP and General Manager of Search – người đứng số 1 về search của Yahoo đã ra đi. Điều có vẻ hiển nhiên, khi mà Yahoo đã chính thức đầu hàng Google trên lĩnh vực tìm kiếm.

 

Usama Fayyad,

Chief data officer and EVP về các giải pháp dữ liệu. Fayyad chịu trách nhiệm về việc "đào bới" kho dữ liệu hàng terabytes để cải thiện việc giới thiệu nội dung và quảng cáo phù hợp hơn cho người dùng – là một trong các công nghệ quan trọng nhất của Internet.

 

Qi Lu

EVP Qi Lu, the EVP engineering for Search and Advertising Technology Group. Qi Lu là kiến trúc sư của Panama ad platform. Và sự ra đi của Qi Lu là hiểu được khi Yahoo đã "bán" monetization cho Google. Tuy vậy, Panama không chỉ là search ads mà còn là display ads – và sự ra đi của Qi Lu sẽ khiến cho lĩnh vực display ads cũng rơi vào rủi ro suy yếu.

 

Brad Garlinghouse

Brad Garlinghouse kiểm soát các tài sản lớn nhất của Yahoo về truyền thông và cộng đồng như: Mail (260 triệu người dùng), Messenger (100 triệu người dùng), Groups (110 triệu người dùng), Flickr (47 triệu) and Zimbra. Không liên quan tới search, nhưng Brad Garlinghouse điều hành các mảng mà Yahoo vẫn tự hào là dẫn đầu. Theo Techcrunch thì Brad Garlinghouse đã khiến tất cả các mảng anh điều hành chiếm vị trí số 1 thị trường, ngay cả khi Yahoo thất bại về search. Sự ra đi của Brad Garlinghouse đặt dấu hỏi cho sự thành công của một loạt cách khởi xướng gần đây của Yahoo liên quan tới portal và unified profile, cũng như YOS (Yahoo Open Strategy). Cũng như là dấu hiệu cho thấy các mảng dịch vụ dẫn đầu của Yahoo không còn tin vào Jerry Yang và tương lai của Yahoo.

 

Bình luận

Sự ra đi của các lãnh đạo chủ chốt này không chỉ đánh dấu thất bại của Yahoo trong search và search ads, mà còn * đe dọa tương lai các tài sản chủ chốt của Yahoo như portal, tương tác/cộng đồng * đặt dấu hỏi lớn vào khả năng thực thi chiến lược tăng trưởng mới Yahoo đã vạch ra cho năm 2009 bao gồm: YOS, ngành dọc hóa (verticalization) và điểm xuất phát (internet starting page) * cho thấy Jerry Yang đã "thuyết phục" chính nhân viên của mình như thế trong vụ MicroHoo và Google

B. Innovation

 

Jeremy Zawodny

An evangelist of what’s now become the Yahoo Open Strategy. Yahoo Open Strategy (YOS) được giới thiệu cách đây hơn 1 tháng và được nhìn nhận như một bước đi chiến lược độc đáo, đầy triển vọng của Yahoo trong việc khai thác sức mạnh của các trang "điểm xuất phát vào Internet" hàng đầu do Yahoo nắm giữ như Ymail, Yahoo.com, MyYahoo và các portal ngành dọc. Việc ra đi của Jeremy Zawodny đặt dấu hỏi lớn vào niềm hy vọng chiến lược này của Yahoo

 

Stewart Butterfield and Caterina Fake

Hai vợ chồng sáng lập Flickr, một trong các website nổi tiếng thế hệ web 2.0, nơi chia sẻ những bức ảnh đẹp và được mệnh danh là "cửa sổ nhìn vào thế giới", và cũng là website dẫn đầu trong các innovation công nghệ cũng như trải nghiệm khách hàng. Flickr được Yahoo mua lại cách đây vài năm.

 

Joshua Schachter

là người sáng lập của delicious, website chia sẻ bookmarks hàng đầu thế giới, nơi bạn chia sẻ và tìm kiếm các link chất lượng cao còn dễ dàng hơn cả Google. Tương tự như Flickr, delicious là đại diện cho sức sáng tạo về công nghệ và trải nghiệm khách hàng của các web 2.0 và được Yahoo mua lại.

 

Bình luận

Việc ra đi của Jeremy Zawodny,Stewart Butterfield and Caterina Fake và Joshua Schachter khiến người ta phải nghi ngờ về * Năng lực tiếp tục đổi mới sản phẩm của Yahoo * Niềm tin của lực lượng đổi mới vào Jerry Yang và tương lại của Yahoo * Việc Jerry Yang đã bắt chấp ý kiến của đội ngũ nhân viên trong việc chối bỏ hợp đồng bán lại cho MS và đầu hàng Google. Danh sách còn dài và sẽ còn tiếp tục tăng, và bạn có thể xem danh sách những người ra đi và sẽ đi đâu cho tới cách đây vài ngày tại TechCrunch.

Cập nhật liên tục- stay tuned.

 Update 1:

Scott Moore, who heads Yahoo Media Group, và Tapan Bhat, responsible for the front door and network services, could leave as well.

Thảo luận tại:  http://bnok.vn/tanng/

Hợp đồng Yahoo/Google – sự đầu hàng toàn diện!

Cảm giác đầu tiên khi đọc được tin Yahoo ký hợp đồng khai thác quảng cáo search với Google là "khó hiểu và thất vọng". Yahoo kiếm được một khoản tiền, giữ được độc lập nhưng tự tay Jerry Yang đã xoá bỏ tương lai của Yahoo và đội ngũ của mình. Sau đây là một vài suy nghĩ nhanh gọn

1. Đầu hàng về công nghệ

Bán quyền khai thác search ads cho Google với kỳ vọng năm đầu tiên sẽ có doanh thu thêm được vài trăm triệu, có nghĩa là Jerry Yang tự khẳng định với các nhà quảng cáo rằng

* Công nghệ quảng cáo của Google vượt trội về hiệu quả so với công nghệ của Yahoo.

* Yahoo không còn ý định, không đủ khả năng và đánh mất toàn bộ quyết tâm cải tiến công nghệ, đầu tư phát triển cho hệ thống Panama.

2. Không có một kế hoạch lâu dài nào cho search và search ads

* Nỗ lực của Yahoo chỉ nhằm để có được một khoản tiền. Kể từ lúc Jerry Yang trở lại nắm quyền, chưa hề có một thông báo nào đáng kể về các nỗ lực đầu tư vào search, cũng như cải thiện công cụ kiếm tiền từ search.

* Nhiều nhà phân tích đã phải ngạc nhiên rằng nếu đã đầu hàng, vậy tại sao không bán cho Microsoft (xem đề xuất của MS) – người sẵn sàng trả giá cao, người sẵn sàng tiếp tục cuộc chiến search engine.

3. Đánh mất vị thế ngắn hạn và chiến lược trên thị trường quảng cáo

* Nhà quảng cáo search ads sẽ làm gì khi họ được thông tin rằng Yahoo kém hơn và không có ý định cải tiến? Họ sẽ nhanh chóng chuyển sang dùng AdWords của Google để mua quảng cáo trên Yahoo. Yahoo sẽ nhanh chóng đánh mất toàn bộ số khách hàng.

* Chuyển giao thị trường quảng cáo search vào tay Google, cho phép đối thủ của mình trở thành monopoly trên thị trường search ads, chỉ sau vài năm liệu Yahoo có còn giữ được địa vị thương thảo, hay mặc cho Google kiểm soát thị trường với quyền lực định giá và tỷ lệ chia sẻ lợi nhuận theo cách họ muốn. Tại sao không bán nó cho Microsoft để họ tạo sức ép lên vị thế cạnh tranh của Google.

* Vị thế chiến lược của Yahoo trên thị trường display ads cũng bị suy yếu nghiêm trọng. Bây giờ họ chỉ còn là một nhà quảng cáo display như bao nhà quảng cáo display khác, với công cụ Panama mà chính họ thừa nhận là thất bại và từ bỏ nỗ lực cải tiến.

4. Đánh mất vị thế dài hạn vì một khoản tiền ngắn hạn.

Chỉ vì một khoản tiền 400-800 triệu/năm, và mong muốn độc lập với Microsoft – Yahoo đã đi một bước quá sai lầm về chiến lược khi tự họ tiêu diệt mọi cơ hội và nỗ lực cho tương lai

Nhiều người còn thắc mắc rằng "Tại sao Jerry Yang không bán mảng search và search ads cho Microsoft (một đề xuất rất có lợi cho Yahoo)?". Câu trả lời có lẽ đã quá rõ ràng "Jerry Yang hành động vì bản thân mình, không vì quyền lợi của cổ đông, nhân viên, hay cả công ty".

Và tôi đồng ý với nhận định của Michael Arrington về hợp đồng này, tuy rằng Tim Orreily có một cách nhìn khác.

Tham khảo thêm tại techmeem

Update 1

NewYork Times cũng buộc tội Yahoo

You’ve chosen to become a pawn of the most dominant company on the Internet. How exactly is that going to lead to a brighter future for Yahoo?

Blog.wired.com: Yahoo Customers Pan Google Ad Deal

"The quality of the Yahoo pay-per-click system has gone down the drain, and it seems like they did [the Google deal] to bail out instead of listening to advertisers and figuring out how to fix the system. From the sound of it, this is terrible news for everyone."

ZoomBan vs Tầm Tay, Yobanbe, FaceViet, GuongMat, Cyvee

Gần đây trong một số thảo luận, trao đổi – nhiều người so sánh ZoomBan với các mạng xã hội khác như Tầm Tay, Yobanbe, FaceViet, GuongMat, Cyworld, Cyvee, cũng như đưa ra một vài dự báo ai sẽ thắng ai. Tuy vậy, góc nhìn của tôi có hoàn toàn khác. Trong một bài viết trước đây về các loại mạng xã hội , tôi đã từng nhắc tới 3 loại mạng điển hình: Relationship centric, content centric và ego centric.

  • Tầm Tay là mạng content centric, FaceViet có xu hướng dịch chuyển về content centric,
  • Yobanbe, CyWorld thiên về Ego centric – cũng đang dịch chuyển về content centrics,
  • Cyvee với mục tiêu trở thành business relationship centrics nhưng có vẻ đang bị lái thành content centric với các tính năng hỏi đáp, thảo luận, tin tức quá mạnh.
  • GuongMat vẫn keep core, nhưng không có được bước tiến đáng kể – đồng nghĩa với việc họ đã thất bại.

Còn về ZoomBan – nó thực sự là một FaceBook clone, giữ vững core của FaceBook là real man, real relationship với slogan tạm thời "ZoomBan luôn nói thật". Nói cách khác ZB đi con đường khác hoàn toàn với các  website Việt nam, sự thành công/thất bại của ZB không liên quan tới Tầm Tay, Yobanbe, FaceViet, GuongMat, Cyvee, Cyworld hay thậm chí Y360. Đối thủ trực diện của ZB có lẽ chính là FaceBook chứ không phải ai khác. Tuy vậy, mức độ thâm nhập thị trường của FaceBook tại Việt nam chưa thật cao. Điều này có nghĩa là ZB phát triển được hay không có lẽ phụ thuộc chính vào việc họ có đáp ứng đúng được nhu cùa người sử dụng hay không? có đặt mũi nhọn marketing của mình đúng vào tập hợp khách hàng đang đòi hỏi các core value họ đang có hay không? và có innovate kịp thời, liên tục để thích ứng với các áp lực thay đổi đến từ khách hàng hay không?

Tham khảo thêm http://www.web2vietnam.com/2008/03/26/back-to-web2vietnam-dot-com/